Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ đang triển khai ở Việt Nam hiện nay

5
lớn do công ty BH quản lý, và công ty BH có trách nhiệm trả một số tiền lớn đã
định trước(gọi là số tiền bảo hiểm) cho người được bảo hiểm khi người được Bảo
hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định, khi kết thúc thời hạn Bảo hiểm hay khi có
một sự kiện xảy ra ( người được Bảo hiểm kết hôn hoặc vào đại học hoặc ngh

hưu ) hoặc cho thân nhân và gia đình người được Bảo hiểm nếu không may họ
chết sớm hơn.
Số tiền lớn trả cho thân nhân và gia đình người có hợp đồng Bảo hiểm nhân
thọ khi không may họ chết sớm ngay khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất
nhỏ sẽ giúp những người còn sống chi trả những khoản phải chi tiêu rất lớn như
tiền thuốc thang, bác sỹ, tiền ma chay, khoản tiền cần thiết cho những người còn
sống, chi phí giáo giục cho con cái nuôi dưỡng cho chúng nên người. Chính vì vậy
Bảo hiểm nhân thọ được coi là một hình thức bảo đảm và mang tính chất tương hỗ,
chia xẻ rủi ro giữa một số đông người với một số ít người trong số họ phải gánh
chịu. Với tính chất như một hình thức tiết kiệm, h
ợp đồng Bảo hiểm nhân thọ giúp
cho mỗi người, mỗi gia đình có một kế hoạch tài chính dài hạn thực hiện tiết kiệm
thường xuyên có kế hoạch.
Với xã hội như một hình thức Bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọ góp phần xoá bỏ
nhữngđói nghèo, khó khăn của mỗi gia đình khi không may người trụ cột trong gia
đình mất đi. Như một hình thức tiết kiệ
m, việc triển khai Bảo hiểm nhân thọ là một
hình thức tập trung nguồn vốn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, góp phần tạo nên
nguồn vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế.
Bảo hiểm nhân thọ được coi là một hình thức tiết kiệm dài hạn nhưng không
phải là hoàn toàn giống hệt nhau. Trong góc độ nghiên cứu ta cần phân biệt rõ về
hai hình thức này vì nó rất thiết thực và gần gũi vơí đờ
i sống của chúng ta. Thực tế
Bảo hiểm nhân thọ xét về mặt tích cực có những điểm giống và khác nhau so với
hình thức tiết kiệm.
b- Sự giống và khác nhau giữa Bảo hiểm nhân thọ và gửi tiền tiết kiệm:
+ Giống nhau:

6
- Giữa gửi tiền tiết kiệm và Bảo hiểm nhân thọ là đều thu hút được một lượng
tiền mặt rất lớn nằm ở mọi cơ quan dn, ở mọi thành phần kinh tế, mọi htành phần
dân cư từ đó tạo lập được một quỹ. Quỹ này đều góp phần đầu tư pt cho nền kinh
tế từ đó góp phần chống lạm phát, tạo thêm công ăn việ
c làm cho mọi người trong
xã hội.
- Người gửi tiền tiết kiệm khi kết thúc kì hạn gửi thì dược nhận một hoản tiền
gốc và một khoản lãi xuất nhất định.
Bảo hiểm nhân thọ khi kết thúc các hợp đồng trong đại đa số các nghiệp vụ
người tham gia cũng được nhận một khoản tiền nộp cho Bảo hiểm đồng thời cũng
có thêm một kho
ản lãi do đầu tư nguồn vốn của công ty Bảo hiểm mang lại.
- Giữa gửi tiền tích kiệm và Bảo hiểm nhân thọ đều góp phần tích cực cho
tăng trưởng và phát triển kinh tế, khắc phục những khó khăn tạo điều kiện thuận
lợi cho mọi người lao động và sinh hoạt hàng ngày có một tương lai đảm bảo ổn
định, thu hút những nguồn vốn nhàn rỗi còn tồn đọng trong dân c
ư mà chưa được
triển khai. Vì vậy mà cả hai hình thức này đều được nhà nước bảo hộ.
+ Khác nhau:

- Mục đích: cả hai hình thức khác nhau ở nhiều điểm nhiều khía cạnh.
Gửi tiền tiết kiệm mục đích chính là nhận lãi suất và thường được nhận trong
một thời gian thơì kì nhất định.
Bảo hiểm nhân thọ mục đích không chỉ mang tính chất tiết kiệm để lấy lãi mà
còn khắc phục những rủi ro. Nghĩa là Bảo hiểm nhân thọ còn mang tính chất tương
h
ỗ, tính xã hội to lớn.
- Tính chất:
. Gởi tiền tích kiệm hoàn toàn mang tính kinh tế
. Bảo hiểm nhân thọ ngoài tính chất kinh tế ra nó còn mang tính chất xã hội rõ rệt.
- Phương thư gửi và nộp:
7
. Gửi tiết kiệm: được tiến hành khi người có tiền mang đi gửi phải đến các
quỹ tiết kiệm hoạc ngân hàng để làm thủ tục.
. Bảo hiểm nhân thọ có ưu thế hơn là làm thủ tục và kí kết hợp đồng tại nhà.
- Người nhận quyền lợi tiền gửi tiết kiệm và người nhận số tiền Bảo hiểm nhân thọ.
Trong gửi tiết kiệm ng
ười nhận và người gửi là một hoặc người thừa kế hợp pháp.
Trong Bảo hiểm nhân thọ người tham gia Bảo hiểm và người nhận số tiền
bảo hiểm có nhiều khác nhau. cụ thể:
- Đối với hoạt động Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn: thường thì người tham
gia và người nhận là như nhau, chỉ khi người tham gia không may bị chết thì người
nhận là người khác.
- Đối vớ
i hợp đồng ASGD thì người tham gia và người nhận là khác nhau.
2- Nguyên tắc hoạt động của Bảo hiểm nhân thọ:
Ta đã biết về nguyên tắc của Bảo hiểm nhân thọ nói chung có rất nhiều điểm
khác biệt và nó phải dựa trên sự tính toán chính xác tỉ lệ chết của dân số. Qua đây
ta thấy được nguyên tắc hoạt động của Bảo hiểm nhân thọ được biểu hiện như sau:
Nguyên tắ
c vừa Bảo hiểm vừa tiết kiệm: tức là hợp đồng sẽ được kí kết với
người tham gia. Người tham gia Bảo hiểm nhân thọ sẽ tuỳ chọn lấy số tiền bảo
hiểm sẽ nhận về sau và từ đó sẽ thực hiện đóng phí theo mức quy định và nộp phí
theo (tháng quý, năm ). khi hết hạn hợp đồng Bảo hiểm người tham gia Bảo hiểm
đượ
c nhận toàn bộ số tiền bảo hiểm. Đó là mức trách nhiệm tối đa mà công ty Bảo
hiểm phải trả, ngoài ra họ còn được nhận thêm một khoản lãi suất từ hoạt động
đầu tư vốn của công ty Bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy ý nghĩa tiết kiệm của Bảo hiểm
nhân thọ là ở chỗ khác với loại hình Bảo hiểm khác, người tham gia Bảo hiểm
chắ
c chắn được nhận số tiền bảo hiểm vào ngày kết thúc của hoạt động Còn ý
nghĩa bảo hiểm của Bảo hiểm nhân thọ là nếu ngươì tham gia Bảo hiểm nhân thọ
bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn thì công ty sẽ dừng thu phí nhưng hợp
8
đồng vẫn được duy trì và công ty Bảo hiểm sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm khi hết
hạn hoạt động.
Mặt khác hoạt động của Bảo hiểm nhân thọ cũng dựa trên quy luật số đông bù
số ít, cụ thể đó là trong trường hợp người tham gia không phải đống phí nhưng
hoạt động vẫn được duy trì. Khi đó Bảo hiểm nhân thọ sẽ dựa vào số
đông người
để xan xẻ để bù đắp sự thiếu hụt đó và khắc phục dần trong nhiều năm. Nó thể hiện
tính chất xã hội hoá rất cao đồng thời còn mang cả tính nhân đạo nhân văn cao cả
bởi vì Bảo hiểm nhân thọ luôn ở bên cạnh mỗi cá nhân, mỗi tập thể những lúc họ
gặp khó khăn.
Ta cứ thử suy ngẫm xem: mỗi khi ta chuẩn bị làm một việc t
ớn trong những
năm tới mà trong tay chưa có đủ tiền ; rồi khi phải chuẩn bị một khoản tiền lớn đề
phòng khi gia đình có ma chay hiếu hỉ hoặc là ở vào hoàn cảnh phải nương tựa
vào đâu nếu ta là người có thu nhập chính trong gia đình nay không còn có thu
nhập nữa. Hơn nữa ta muốn có thêm một đức tính kiên trì và thói quen tiết kiệm.
Để thực hiện được những công việc đó thì Bảo hiểm nhân thọ
luôn là tấm lá chắn
hữu hiệu để giúp ta thực hiện mong muốn đó.
Bảo hiểm nhân thọ còn đảm bảo được nguyên tắc trung thực và tín nhiệm
tuyệt đối, luôn tạo cơ hội và hỗ trợ cho người tham gia có được những ích lợi đích
thực, đảm bảo cho cả hai bên cùng có lợi.
II- SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM NHÂN THỌ:
1- Tại sao cần thiết mua bảo hiểm nhân thọ
Có thể khẳng định rằng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chắc chắn mang lại
lợi ích cho các chủ hợp đồng khi họ tham gia. Mặt khác còn góp phần tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Tuy nhiên áp dụng ở Việt Nam nghiệp vụ này cho thấy bảo
hiểm nhân thọ ra đời đáp ứng được những vấn đề cơ bản sau:
Trườ
ng hợp người tham gia không may bị chết, gia đình có tiền để trả nợ trả
những khoản chi phí mai táng chôn cất. Bù đắp dược những khoản thu nhập
9
thường xuyên cho gia đình. Khi người chủ gia đình bị chết hoặc là người tham gia
là người có thu nhập chính trong gia đình nay không còn có thu nhập nữa.
Trường hợp người tham gia không may bị thương tật vĩnh viễn hoặc bị ốm
đau, gia đình sẽ có tiền chi phí để cứu chữa (như tiền thuốc, tiền nằm viện, phẫu
thuật). Đối với cuộc sống bình thường: gia đình sẽ có tiền để
trả học phí và các
khoản lệ phí khác trong trường hợp còn học đại học, cưới xin, khởi nghiệp kinh
doanh Và có được khoản tiền để trả nợ nếu mua một ngôi nhà mới. Ngoài ra còn
có được một khoản tiền lớn khi về hưu đồng tiền góp phần tăng thêm tích luỹ ngân
sách cho gia đình.
Đối với hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ góp phần bù đắp
thiệt hại cho các doanh nghiệ
p do người chủ dn không may bị chết thì sẽ được trả
số tiền bảo hiểm mà dã được chọn trước cho người được hưởng quyền lợi BH.
Trường hợp tai nạn dẫn đến thương tật toàn bộ vĩnh viễn thì sẽ được trả số tiền BH
và hợp đồng vẫn được duy trì miễn phí với đầy đủ các quyền lợi BH khác và từng
năm sẽ được chia thêm lãi t
ừ kết quả đầu tư phí bảo hiểm nhân thọ của công ty.
2- Tác dụng:
Bảo hiểm nhân thọ ra đời có nhiều tác dụng tuy vậy có thể khái quát ở một số
tác dụng chủ yếu sau:
Đối với từng cá nhân và gia đình, nó thể hiện sự quan tâm lo lắng của người
chủ gia đình với người phụ thuộc, giữa cha mẹ với con cái đồng thời góp phần làm
giảm bớt khó kh
ăn về mặt tài chính của gia đình khi không may gặp rủi ro.
Tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng có nghĩa là tiết kiệm một cách thường
xuyên có kế hoạch. Khi quyết định mua một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì
những khoản phí nhỏ phải nộp hàng tháng trích từ ngân sách của một gia đình có
thể coi như những khoản chi tiền điện, tiền nước, tiền nhà
Trong điều kiện kinh t
ế phát triển và ổn định những gia đình có thu nhập, chi
tiêu ở mức cao trích một khoản tiền dể mua bảo hiểm nhân thọ nó không ảnh
10
hưởng đến toàn bộ quá trình chi tiêu trong một tháng của gia đình đó và như vậy
hàng tháng họ đã tiết kiệm được một khoản tiền nhất định.
Khoản tiền tiết kiệm được thực chất đã tạo lập được nguồn quỹ nhất định cho
gia đình. Góp phần để giáo dục con cái vàcó tiền để chi dùng khi về hưu.
Đối với nền kinh tế bảo hiểm nhân thọ
đã thu hút được một lượng tiền rất lớn
còn nhàn rỗi nằm tản mạn ở các tầng lớp dân cư trong xã hội. Lượng tiền này
không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm chống lạm phát mà còn góp phần đáng kể vào
nguồn vốn đầu tư dài hạn giúp nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Qua số liệu
thống kê trên thế giới những năm qua cho thấy nghiệp vụ này chiếm ph
ần lớn
trong GDP của một số quốc gia trong bảng sau:

Đơn vị: Triệu USD
Tên nước Tổng phí %bảo hiểm nhân thọ %so với GDP
Hàn quốc 36, 1 79 8, 68
Nhật bản 320 73 5, 6
Đài loan 9. 9 69 6, 0
Mĩ 522 41 3, 4
Anh 192 64, 5 7, 1

Đối với xã hội: bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho
người lao động nâng cao phúc lợi cộng đồng. Như ở hàn quốc có hơn một người
làm việc ở các công ty bảo hiểm nhân thọ.
11
III- CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM NHÂN THỌ CƠ BẢN:
1. Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn:
a. Khái niệm và đặc điểm:
- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn được hiểu là loại hình bảo hiểm mà trong
đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi họ
không may bi chết. Đó là lúc công ty sẽ thanh toán toàn bộ số tiền bảo hiểm.
Bảo hiểm sinh mạng là một loại bảo đảm tạm thời và thời h
ạn bảo hiểm đựơc
quy định cụ thể như: 1, 5, 10 hoặc hai mươi măn hoặc độ tuổi đến 60, 65, 70 và có
thể là 75 tuỳ theo từng công ty hoặc hợp đồng.
Ví dụ: Một chủ thầu xây dựng đầu tư một phần lớn tài sản của mình vào một
dự án. Nếu ông ta sống thì sẽ thu được món lợi lớn từ dự án, nhưng nếu không may
ông ta chết thì vốn đầu t
ư của ông ta sẽ mất và gia đình ông ta sẽ gặp khó khăn về
tài chính. Vì thế ông ta có thể mua hợp đồng bảo hiểm sinh mạng có thời hạn để
bảo vệ cho công việc đầu tư xây dựng của mình cho đến khi hoàn thành.
Đặc điểm:
- Số tiền bảo hiểm trả một lần và chỉ được thanh toán tiền trong trường hợp
người tham gia bảo hiểm bị chết trong thời hạ
n bảo hiểm.
- Thời hạn xác định
- Phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm
- Phí đóng định kỳ
Khác với các loại hình bảo hiểm dài hạn khác như bảo hiểm nhân thọ trọn đơi
và bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp. Hai loại hình này là loại hình bảo hiểm dài hạn có
giá trị hoàn lại khi huỷ bỏ hợp đồng hoặc trả số tiền b
ảo hiểm khi hết hạn hợp
đồng.
12
b- Các loại hình bảo hiểm sinh mạng:
Bao gồm các loại hình sau:
+Bảo hiểm sinh mạng có số tiền bảo hiểm cố định.
+Hợp đồng bảo hiểm siinh mạng có thể tái tục
+Bảo hiểm sinh mạng có thể thay đổi
+Bảo hiểm sinh mạng có số tiền bảo hiểm giảm
+Bảo hiểm sinh mạng có số tiền bảo hiểm tăng
+Bảo hiểm mất giả
m thu nhập cho gia đình
2- Bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời:
a- Khái niệm - đặc điểm:
Bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời có số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người
được bảo hiểm chết, với điều kiện đã đóng đủ phí bảo hiểm cho đến khi chết và
nếu chết trước tuổi 100. Giá trị của hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời
tăng đều và sẽ bằng số tiền bảo hiểm nếu người dược bảo hiểm còn sống và đã nộp
phí đầy đủ cho đến tuổi 100. Nếu chủ hợp đồng sống đến 100 tuppỉ và hợp đồng
vẫn còn hiệu lực như hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp.
Như vậy hợ
p đồng bảo hiểm trọn đời là một hình thức bảo vệ lý tưởng trong
nhiều trường hợp. nếu so sánh với các loại bảo hiểm dài hạn khác thì loại nay cung
cấp số tiền bảo hiểm lớn nhất, mà phí bảo hiểm lại nhỏ nhất, hợp đồng có ưu thế
chuyển đổi linh hoạt.
Loại hình naỳ có 3 đặc điểmlà:
- Số tiền bảo hiể
m được trả một lần khi người tham gia bảo hiểm bị - chết
- Thời hạn không xác định
- Phí bảo hiểm đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm
13
b- Các loại hình:
+Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời có số phí bảo hiểm đóng một lần
+Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời được thay đổi
+Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có phí tăng dần
3- Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hỗn hợp:
a- Khái niệm- đặc điểm:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn h
ợp cũng là một trong những loại bảo hiểm
dài hạn và có đặc trưng riêng biệt của mình. hợp đồng này đáp ứng nhu cầu của
những người muốn có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị tiền mặt tăng nhanh
đẻ họ có một khoản tiền nào đó trong tương lai.
Loại hình này có 3 đặc điểm:

+Số tiền bảo hiểm trả một lần khi hết hạn hợp đồng hoặc khi người dược bảo
hiểm bị chết trong thời hạn bảo hiểm.
+Thời hạn bảo hiểm xác định.
+Phí bảo hiểm đóng định kỳ không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm.
Như vậy so sánh với tính chất của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
trọn đời với
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp ta thấy.
- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết thúc hợp đồng khi người được
bảo hiểm đến tuổi 100, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp kết thúc trước khi
người được bảo hiểm đến tuổi 100.
- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọ
n đời bảo vệ cho người được bảo hiểm đến
tuổi 100, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp chỉ bảo vệ trong thời gian trước
khi người được bảo hiểm đến tuổi 100.
b- Các loại hình:
Hiện nay trên thế giới đang thực hiện nhiều loại hình bảo hiểm nhân thọ hỗn
hợp như sau:
14
+Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp 10 năm
+Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp 20 năm
+Hợp đông bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp 30 năm
+Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp chấm dứt tại tuổi 55 hoặc 65
Ngoài ra trong bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp người ta còn phân loại theo
phương pháp trả tiền bảo hiể
m bao gồm:
Loại 1: Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thông thường.
Loại 2: Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp ứng trước số tiền bảo hiểm.
Hiện nay công ty bảo hiểm nhân thọ - bảo việt nhân thọ- đang triển khai hai
nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ đó là:
- Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm, mười năm.
- Bảo hiểm trẻ em- chương trình an sinh giáo d
ục- đảm bảo cho trẻ em đến
tuổi trưởng thành.
Cả hai loại này đều thuộc nhóm bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp nên thể hiện rất
rõ nét tính kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm.
4- Hợp đồng tiền trợ cấp hưu trí:
a- Khái niệm- đặc điểm:
Đây là loại hình mà phí bảo hiểm đóng ngay một lần và công ty bảo hiểm có
trách nhiệm trả trợ
cấp định kỳ cho người được bảo hiểm về hưu cho đến khi chết.
Người ta thường kết hợp dạng bảo hiểm trợ cấp hưu trí với bảo hiểm hưu trí.
Khi về hưu người được bảo hiểm được nhận số tiền bảo hiểm của hợp đồng bảo
hiểm hưu trí và mua ngay hợp đồng bảo hiểm trợ cấ
p hưu trí để đảm bảo cuộc sống
khi về hưu cho đến khi chết.
b- Các loại hình:
Có hai loại trợ cấp hưu trí đó là:
+Trợ cấp theo số tiền cố định.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét