Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Tài liệu Trí tuệ đám đông James Surowiecki docx

Trí tuệ đám đông
9
là quá trình mang tính xã hội. Con người càng tiếp
xúc nhiều với nhau thì quyết định của một nhóm
càng ít có khả năng là sáng suốt hơn. Sau đây là một
vài cách các nhóm có thể tự hủy hoại mình:


Bằng chứng xã hội
– Người ta thường có
xu hướng cho rằng nếu rất nhiều người đang
cùng làm một việc nào đó, ắt hẳn phải có lý
do. Đó là lý do tại sao đám đông ngày càng có
tầm ảnh hưởng khi nó càng lớn mạnh.


Tâm lý bầy đàn
– Con người chạy theo
đám đông bởi như vậy ít rủi ro hơn là làm
việc gì đó cấp tiến rồi có thể thất bại thảm hại.


Thác thông tin
– Con người với những
thông tin khác nhau, phần lớn là thông tin
không đầy đủ, đưa ra những quyết định
theo kiểu nối tiếp nhau bởi họ nghĩ rằng
mình đang học hỏi điều gì đó từ tấm gương
của người khác. Khi con người ngừng tin
tưởng vào kiến thức riêng của mình thì
“thác” đó sẽ ngừng cung cấp thông tin. Họ
đưa ra quyết định dựa trên cái họ nghĩ rằ
ng
người đi trước đã biết, thay vì kiến thức của
riêng mình.
Những tính toán phức tạp
10
Bất chấp những cạm bẫy trên, việc bắt chước người
khác thay vì thực hiện các tính toán phức tạp trước
mỗi hành động lại là phản ứng hợp lý cho những
giới hạn của chính chúng ta. Nếu được sử dụng tốt,
nó sẽ trở thành công cụ mạnh để truyền bá nhanh
chóng những ý tưởng tốt. Tuy vậy, con người phải
sẵn sàng ngừng bắt chước người khác và học h
ỏi cho
chính mình khi đã thu được những lợi ích đủ lớn. Sự
bắt chước thông minh phụ thuộc vào một chuỗi các
lựa chọn và thông tin ban đầu và vào sự sẵn sàng
của tối thiểu là vài người đưa ra ý kiến của mình
trước nhóm.
Con đường lát ngang Fever
Hầm Erie được hoàn thiện năm 1825 nhằm mục
đích phục vụ giao thương giữa các thành phố lớn,
nhưng lại không giúp ích gì cho người dân ở những
thành phố nhỏ. George Geddes đã thấy được sự
thành công của những con đường tà vẹt ở Canada –
những tấm ván gỗ được đặt trên hai hàng gỗ − và
ông nghĩ rằng đó chính là một giải pháp. Đây chắc
chắn là một sự cách tân tốt, nh
ưng chưa chắc nó
hiệu quả về mặt chi phí cho những doanh nghiệp tư
nhân được cấp vốn từ tiền lệ phí cầu đường. Geddes
cho rằng một con đường thông thường sẽ sử dụng
được trong tám năm, như vậy tạo ra lợi nhuận trên
Trí tuệ đám đông
11
vốn đầu tư khá tốt.
Vào năm 1846, Geddes đã thuyết phục đảo Salina,
New York xây dựng đường tà vẹt và loại đường này
đã lan ra khắp cả bang và qua cả vùng Trung Tây.
Trong vòng một thập kỷ, có 352 công ty xây dựng
đường tà vẹt ở New York và hơn 1.000 công ty ở
nước Mỹ.
Không may là đường tà vẹt chỉ sử dụng được
trong bốn năm chứ không phải là tám năm. Đến
cuối năm 1850 thì rõ ràng là những con đường này
không có hiệu qu
ả và khi kết thúc cuộc Nội chiến thì
hầu hết chúng đã bị dỡ bỏ.
Vào năm đầu tiên khi đường tà vẹt đang thành
công, người ta thấy một giải pháp. Khi càng xây
thêm nhiều, tính hợp pháp của chúng ngày càng bị
thắt chặt và niềm mong ước cân nhắc các giải pháp
khác bị thu hẹp. Khi tin tưởng vào những thông tin
phụ thuộc, người ta đã phải mất nhiều năm trước
khi nhận ra những điể
m yếu cơ bản của loại đường
này, và việc tin tưởng vào kiến thức của riêng mình
lại hợp lý hơn.

Ghép các mảnh lại với nhau
Cơ quan tình báo Mỹ là một tập thể những nhóm
12
thật sự độc lập, phân quyền – những điều kiện lý
tưởng để một nhóm có được những quyết định sáng
suốt. Tuy vậy, vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm
2001 đã để lộ ra những thiếu sót. Chỉ với lượng
thông tin mà các cơ quan tình báo nắm giữ, chẳng
có gì đáng ngạc nhiên là khi nhìn lại những dữ liệu
từ trong quá khứ lại không hề thấy được bất k
ỳ một
lời cảnh báo nào. Nhưng thực tế là các cơ quan tình
báo đã không tiên liệu trước được bất kỳ một hành
động tấn công khủng bố nào từ năm 1993 cho đến
2001. Quốc hội đã nhận ra rằng sự phân quyền mà
không có sự kết hợp và thiếu thông tin chia sẻ cho
nhau chính là một phần của vấn đề.
Hình thức phân quyền đã trở nên vô cùng phổ
biến trong giới kinh doanh từ 15 n
ăm qua. Người ta
cũng đề cao các mạng xã hội, như là Napster, cho
phép con người có thể kết nối và hợp tác với nhau.
Để đưa ra được những quyết định sáng suốt, đám
đông cần có sự
phân quyền
. Điều đó có nghĩa là
quyền lực của họ không tập trung hoàn toàn ở một
trung tâm đầu não, các quyết định quan trọng được
các cá nhân đưa ra dựa trên kiến thức riêng của họ.
Sự chuyên môn hóa làm tăng phạm vi và tính đa
dạng của các ý kiến và thông tin sử dụng để giải
quyết những vấn đề khó khăn. Điểm yếu của sự
phân quyền là không có gì đảm bảo cho việ
c thông
Trí tuệ đám đông
13
tin có thể được truyền đạt đến toàn bộ hệ thống.
Thông tin phải được
lắp ghép
lại với nhau.
Galton đã đếm số phiếu dự đoán cân nặng của
con bò để kết hợp chúng lại, và trong thị trường tự
do thì cơ chế tập hợp lại thường là mức giá. Nếu
không có sự kết hợp, giải pháp tốt nhất một nhóm
có thể có là giải pháp của người thông minh nhất
trong nhóm, và cũng chẳng có gì đảm bảo là sẽ có
giải pháp đó.
Tình báo Mỹ đã s
ử dụng sai hình thức phân quyền.
Hình thức họ sử dụng đúng là đã đem lại các nguồn
thông tin đa dạng và phân quyền, nhưng nó lại không
kết hợp các thông tin hay các đánh giá. Kết nối các cơ
sở dữ liệu máy tính và thiết lập các thị trường ra
quyết định là những cách giúp các cơ quan tình báo
Mỹ có thể kết hợp lại một cách hiệu quả hơn.
FutureMAP
FutureMAP là thị trường nơi mọi người có thể mua
bán các hợp đồng dựa trên những kỳ vọng về các sự
kiện ở Trung Đông và các nơi khác. Đó là một cách
để chính phủ có thể kết hợp thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau. Một thị trường nội bộ, giới hạn
trong khoảng 20 đến 30 người, có thể phá hỏng các
chính sách nội bộ bằng cách trao thưởng cho những
14
dự đoán chính xác, chứ không phải là làm hài lòng
ông chủ. Thị trường Phân tích Chính sách (PAM)
cũng là thị trường tương tự mở cửa cho công chúng.
Khả năng hưởng lợi của con người từ những sự
kiện kinh khủng đã tạo ra cơn bão lửa. Đối với các
Thượng nghị sĩ Ron Wyden và Byron Dorgan,
những người lãnh đạo chiến dịch để mà dập tắt nó, ý
định thu thập thông tin từ những người mà tình báo
Mỹ có thể chưa nghe đến tên là việc “sỉ nhục” và
“thất đức”.
Những lo lắng của họ đã bị đặt nhầm chỗ bởi vì
các nhà phân tích của chính phủ Mỹ được trả lương
để hàng ngày tìm ra câu trả lời cho những vấn đề
tương tự như PAM . PAM không phải là một trò chơi
rùng rợn mà nó là một công cụ giúp hiểu rõ hơn về
tình hình kinh tế, độ ổn định dân s
ự và sự chuẩn bị
sẵn sàng của các quốc gia Trung Đông.
Sự phối hợp trong một thế giới hỗn loạn
Một vài vấn đề có câu trả lời chính xác − như
trường hợp cân nặng của con bò, hay một câu trả
lời rõ ràng, như trường hợp dự đoán về các vụ tấn
công khủng bố. Những vấn đề về hợp tác xảy ra
khi một người phải quyết định không chỉ câu trả
lời chính xác cho chính bản thân họ, mà còn là
Trí tuệ đám đông
15
câu trả lời mà mọi người nghĩ là chính xác. Những
vấn đề đó không tuân theo các giải pháp rõ ràng
và chính xác.
Nhà xã hội học William H. Whyte đã dành rất
nhiều thời gian nghiên cứu những con phố và vỉa hè
thành phố New York để xem làm thế nào mà nhiều
người có thể phối hợp tốt đến vậy. Mặc dù diện tích
chật hẹp nhưng người ta vẫn không đâm vào nhau.
Chẳng ai bảo ai phải làm thế nào, họ dự đoán hành
vi của nhau, giảm hay tăng tốc độ một chút để tránh
va phải nhau.
Nhà khoa học xã hội Thomas C. Schelling đã tiến
hành các thí nghiệm, trong đó các cặp đối tượng lựa
chọn giữa “đầu” hay là “đuôi” để phù hợp với người
cùng cặp. 36 trong 42 người chọn “đầu”. Và khi
được yêu cầu nói một con số tích cực, 40% đối tượng
đã chọn số “một”. Schelling tin rằng trong xã hội có
những
tiêu điểm
nổi bật nơi những kỳ vọng của
con người đồng quy với nhau. Chúng cho phép con
người tìm ra cách thức để có được các kết quả đem
lại lợi ích cho tập thể mà không cần phải theo hình
thức tập trung.
Những chuẩn mực và quy ước ngầm
Có thể tạo dựng sự phối hợp thông qua các chuẩn
mực và quy ước ngầm. Chúng duy trì trật tự và sự ổn
16
định, cho phép những nhóm người khác nhau,
không liên quan đến nhau giải quyết được những
tình huống nhất định mà không phải lãng phí thời
gian suy nghĩ hay phải chịu đựng cảnh chia rẽ.
Có lẽ nên tách biệt những quy ước ngầm khỏi đời
sống kinh tế, song chúng vẫn có mặt trong các công
ty. Các công ty sa thải nhân viên trong thời kỳ suy
thoái thay vì cắt lương đồng loạt. Mặc dù không có
ai lãnh đạo hay định hướng nhưng hầu hết các công
ty hoạt động trong th
ị trường tự do đều hợp tác và
sử dụng các nguồn lực ở đúng lúc, đúng chỗ. Các
nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các thị trường sẽ
điều chỉnh được một mức giá hợp lý giữa người bán
và người mua khi những con người có lý trí tiếp cận
được đầy đủ thông tin. Tuy vậy, thậm chí các thị
trường không hoàn hảo do những người không có
thông tin đầy đủ tạo ra c
ũng có thể đem lại những
kết quả gần lý tưởng.
Đến trước, phục vụ trước
“Đến trước, phục vụ trước”, đó là một thói quen đã
quá cơ bản đến nỗi chúng ta không hề nghĩ nó là
một quy ước. Trên toa tàu điện ngầm, trong rạp
chiếu phim, chúng ta giả định rằng đó là cách sắp
xếp ghế tốt nhất, thậm chí không cả tính đến giá
tiền cho vị trí ngồi đó, người đó muốn ngồi với ai
Trí tuệ đám đông
17
hay về tuổi tác và tình trạng sức khỏe của người đó.
Vào những năm 1980, nhà khoa học xã hội
Stanley Milgram đã yêu cầu các sinh viên của mình
đi tàu điện ngầm thẳng thắn nhưng lịch sự đề nghị
mọi người nhường chỗ. Đáng ngạc nhiên là một nửa
số người được hỏi đã nhường ghế của mình, thậm
chí không cần một lý do nào. Phần khó khăn nhấ
t
không phải là thuyết phục người khác, thay vào đó
là lấy hết can đảm để yêu cầu họ ngay từ đầu. Các
sinh viên cảm thấy “băn khoăn, căng thẳng và bối
rối” khi đứng trước đối tượng. Phần lớn thời gian họ
không thể tự mình yêu cầu được. Chuẩn mực “đến
trước, phục vụ trước” trong chuyện chỗ ngồi đã ăn
sâu đến nỗ
i sẽ phải mất rất nhiều công sức mới có
thể phá bỏ chúng.
Thuế, tiền boa và lòng tin
Dường như các vấn đề về hợp tác khá giống các vấn
đề về phối hợp, nhưng chúng yêu cầu mọi người đều
phải có trách nhiệm. Mặc cho hầu hết các cá nhân
đều theo đuổi lợi ích riêng của mình, các vấn đề về
hợp tác đòi hỏi một nhóm phải mở rộng sự xác định
của nó về lợi ích riêng vượt lên trên cả tối đa hóa
những nhu cầu ng
ắn hạn. Chúng còn đòi hỏi lòng tin.
Năm 2003, CEO của Sàn giao dịch Chứng khoán
18
New York, Richard Grasso đã bị đuổi việc do kiếm
được quá nhiều tiền − 139,5 triệu đô-la. Ông làm rất
tốt công việc của mình nhưng buộc phải từ chức do
sự oán giận phi lý của công chúng. Các nhà kinh tế
học đã thừa nhận rằng về cơ bản con người chỉ quan
tâm đến bản thân mình, và họ sẽ đưa ra những lựa
chọn có lợi cho họ mà không quan tâm đến người
khác làm gì. Tuy v
ậy, trên thực tế, con người muốn
có được những quyết định công bằng và họ mong
đợi một mối quan hệ hợp lý giữa sự hoàn thành với
phần thưởng. Mặc dù công chúng chẳng phải trả tờ
hóa đơn nào, nhưng họ cảm thấy rằng số tiền
Grasso được hưởng là hết sức bất công.
Phản ứng đối với thu nhập của Grasso và những
người tham gia trong trò chơ
i “tối hậu thư” là vô lý,
song chúng thể hiện sự sẵn sàng trừng trị hành vi
xấu và mở rộng định nghĩa hẹp về lợi ích riêng để
phục vụ cho cái lợi chung.
Hành vi thân xã hội
Hành vi thân xã hội khiến cho các xã hội và các tổ
chức có thể hoạt động được, bởi chúng không thể
chỉ dựa vào các luật lệ hay các hợp đồng. Sự hợp tác
thường làm cho mọi người đều có lợi hơn, mặc dù
thật hiếm khi có lý do hợp lý để các cá nhân hợp tác
với nhau. Mọi người không muốn đóng thuế, nhưng
để có thể buộc họ thì phải khiến họ tin rằng hầu hế
t
Trí tuệ đám đông
19
mọi người cũng làm như vậy. Con người hợp tác với
nhau và không lợi dụng lẫn nhau, một phần là bởi
họ sẽ còn tiếp tục phải làm ăn, tiếp xúc với nhau.
Tuy vậy, chúng ta vẫn đưa tiền boa cho người bồi
bàn mà chúng ta sẽ không gặp lại. Để có thể hợp tác
hiệu quả, ta phải tin tưởng lẫn nhau.
Không may là con người càng tin tưởng thì họ lại
càng dễ bị lợi dụ
ng, vì vậy hầu hết các xã hội thị
trường đều phát triển những cơ chế để hạn chế
tham nhũng. Cuối cùng, chính Chủ nghĩa Tư bản và
các lực lượng thị trường đã cho phép có sự tin tưởng
giữa những người xa lạ bị thúc đẩy bởi những lợi ích
của trao đổi song phương. Các thị trường có thể
nuôi dưỡng cho lòng tham và sự ích kỷ, nhưng con
ngườ
i vẫn thể hiện sự sẵn sàng một cách vô lý
nhưng cần thiết sự tin tưởng hợp tác với nhau.
Trò chơi “Tối hậu thư”
Trong một thí nghiệm nổi tiếng về kinh tế học hành
vi, người ta đã cho mỗi cặp tham gia 10 đô-la và để
họ tự chia với nhau. Người đề xuất sẽ quyết định số
tiền được chia thế nào và đưa ra đề nghị với người
kia. Người kia có thể chấp nhận đề nghị và cả hai
cùng được giữ số tiền đó, hoặc cũng có thể từ chố
i và
cả hai cùng mất số tiền.
20
Nếu những người chơi có lý trí, người đề xuất có
thể giữ 9 đô-la, đưa cho người kia 1 đô-la, người
được đề nghị sẽ cầm số tiền đó, bởi nếu từ chối thì
họ sẽ chẳng có đồng nào. Nhưng trên thực tế, những
lời đề nghị dưới 2 đô-la thường bị từ chối. Người ta
thà chẳng có đồng nào còn hơn để ng
ười kia được
quá nhiều tiền.
Người đề xuất tính trước hành vi đó, bởi nếu là
họ thì họ cũng làm tương tự, và lời đề xuất thường là
5 đô-la. Cho dù trò chơi được chơi ở bất cứ nơi đâu
trong thế giới phát triển này, con người cũng đều
phản ứng như nhau, thậm chí với số tiền lớn.
PHẦN HAI: CÁC VÍ DỤ
Giao thông: Những gì chúng ta có là sự phối
hợp thất bại
Năm 2003, thành phố London bắt đầu tính phí
những xe đi vào khu trung tâm vào giờ cao điểm.
Singapore gắn thẻ điện tử thông minh vào mỗi xe,
nó sẽ tính phí ngay khi chiếc xe tiến vào các khu
trung tâm buôn bán. Thành phố Mexico cho phép
lái xe vào những ngày cụ thể dựa trên biển số xe.
Giải pháp tốt nhất để giải quyết tắc nghẽn là xác
định phí để người dân trả tiền sử dụng đường dựa
trên những điều kiện chính xác như
: giao thông,
Trí tuệ đám đông
21
thời tiết và phương tiện của họ. Người Mỹ sẽ chấp
nhận phải trả thêm phí tắc nghẽn cho những cuộc
điện thoại đường dài hay các chuyến bay vào những
ngày giữa tuần, nhưng họ ghét cay ghét đắng cái ý
tưởng phải trả thêm tiền khi lái xe vào giờ cao điểm.
Họ thà chịu đựng cảnh tắc đường còn hơn để cho ai
đó trả tiền để thoát khỏi c
ảnh tắc nghẽn. Giao thông
vốn có tiếng là khó phối hợp.
Những chiếc xe trên đường cao tốc đông nghẹt
thường tuân theo những quy tắc đơn giản: không
đâm vào xe đằng trước, chuyển làn nếu có thể và lái
nhanh hết sức một cách an toàn. Nhưng khi có quá
nhiều xe thì các xe không thể tự do chuyển từ làn
này sang làn khác hay tăng giảm tốc độ mà không
gây ra rắc rối nào. Khi càng nhiều xe đi vào đường
cao tốc, những chiếc khác sẽ phả
i sử dụng đến
phanh và một làn sóng xe phanh sẽ diễn ra. Khi các
xe cố chuyển làn để có thể đi nhanh hơn, tốc độ đều
đều của làn đã bị biến mất. Giờ thì các xe trong tình
trạng di chuyển không ổn định với một tốc độ tương
tự nhau nhưng chậm hơn trước rất nhiều. Điều đó
tạo ra sự tắc nghẽn giao thông và rất khó có thể
thoát ra. Nh
ững chiếc xe lái ở phía trên của đám tắc
đi chậm hơn những chiếc đang tiến lại từ đằng sau
rất nhiều. Tắc đường khiến lái xe cẩn trọng hơn khi
họ cố gắng phối hợp một cách không hoàn toàn chắc
22
chắn. Họ làm tăng khoảng cách giữa các xe, thay đổi
làn đường thường xuyên hơn và khiến người khác
phải đi chậm lại nhiều hơn.
Giảm tốc và tăng tốc
Rất khó có thể thực hiện sự phối hợp trên đường cao
tốc bởi tính đa dạng của các lái xe. Sự đa dạng là tốt
đối với quá trình đưa ra quyết định nhưng lại khiến
cho việc giải quyết các vấn đề về phối hợp khó khăn
hơn. Các thử nghiệm đối với các xe được điều khiển
bằng máy tính di chuyển trên một con đường y hệt
chỉ ra rằng sự đồng nhất giữa các lái xe chính là giải
pháp cho tình trạng ách tắc giao thông. Nếu các xe
có thể di chuyển như một khối vững chắc, không
thường xuyên tăng hay giảm tốc độ thì hầu như sẽ
chẳng còn tình trạng tắc đường.
Khoa học: Sự Cộng tác, Cạnh tranh và Danh tiếng
Các nhà khoa học thường làm việc với nhau theo
từng nhóm lớn, cho phép họ có thể kết hợp nhiều
loại kiến thức khác nhau. Nó giúp công việc liên
quan đến các vấn đề thuộc nhiều ngành học khác
nhau được dễ dàng hơn và đảm bảo có sự đa dạng
trong các viễn cảnh khác nhau, giúp các nhà khoa
học làm việc năng suất hơn. Các nhà khoa học làm
việc càng năng suất và càng nổi tiếng thì khả năng
Trí tuệ đám đông
23
họ làm việc cùng nhau càng nhiều hơn. Các nhà
khoa học thường không giữ những kiến thức mới
cho riêng mình bởi họ biết rằng nó sẽ không được
khai thác hết. Họ công bố khám phá của mình để
người khác có thể sử dụng và biến chúng thành giả
định của người đó. Các nhà khoa học phụ thuộc vào
những người tiền nhiệm và đồng nghiệp của họ để
có thể làm việc suôn sẻ,
để họ có thể xây dựng công
việc của mình trên đó.
Nhà khoa học là những người quan tâm tới lợi
ích riêng, song họ tìm được cách để lợi ích riêng của
họ đem lại lợi ích cho người khác. Họ nhặt ra thứ
mà họ cho là thú vị, và trong quá trình tìm kiếm sự
nổi tiếng cho riêng mình họ đã khiến cho nhóm trở
nên thông thái hơn.
Ngày nay, thách thức cho cộng đồng các nhà
khoa học là ngày càng có nhiều nghiên cứu khoa học
được các công ty tài trợ. Các công ty này thu được
nhiều lợi ích kinh tế khi bảo mật thông tin hơn là
phân tán nó rộng rãi. Khi các nhà khoa học nổi tiếng
làm việc cùng nhau, họ cũng sẽ có một sự chia sẻ
không đồng đều về lòng tin, bởi các nhà khoa học
khác dành sự quan tâm cho danh tiếng nhiều hơn là
cho công việc. Những vấn đề này đã thách thức sự
độc lập của các thành viên trong nhóm.
24
Sự phối hợp SARS
Tháng 2 năm 2003, Bộ Y tế Trung Quốc thông báo
cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về một loại bệnh
hoàn toàn mới. WHO đã huy động nỗ lực của toàn
thế giới để tìm ra nguồn bệnh. Ngày 17 tháng 3, 11
phòng thí nghiệm nghiên cứu trên toàn thế giới bắt
đầu phối hợp với nhau nhằm tìm ra nguồn gốc của
căn bệnh tên gọi là SARS. Các phòng thí nghiệm
hàng ngày hội thảo với nhau qua truyền hình, tranh
luận các kế
t quả thí nghiệm và đăng các bức ảnh
chụp virus được cách ly từ các bệnh nhân SARS. Các
phòng thí nghiệm khác nhau cùng làm việc với cùng
những mẫu giống nhau, nhờ đó tăng nhanh tốc độ
và hiệu quả công việc.
Đến ngày 21 tháng 3, các nhà khoa học của
trường Đại học Hồng Kông đã cách ly một nguồn
gần như chính xác. Cùng ngày, các nhà khoa học
thuộc Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát bệnh
(CDC) – Mỹ, đã cách ly được một virus. Sang đến
tu
ần tiếp theo, các phòng thí nghiệm khác đã phát
hiện ra cùng loại virus đó, rồi tiếp đến là các phòng
thí nghiệm ở Đức, Hà Lan và Hồng Kông. Đến ngày
16 tháng 4, các phòng thí nghiệm đã tự tin công bố
rằng mình đã tìm ra được nguồn gốc căn bệnh. Mặc
dù Cynthia Goldsmith thuộc CDC là người đầu tiên
phát hiện ra virus nhưng phải mất đến vài tuần hợp
Trí tuệ đám đông
25
tác giữa loài người trên toàn thế giới mới có thể
chứng minh được đó chính là virus cần tìm.
Thảm họa
Columbia
và Làm thế nào có thể tổ
chức hiệu quả các nhóm nhỏ
Sau khi tàu Columbia được phóng vào tháng 1 năm
2003, các nhân viên của NASA đã cố gắng xác định
mức độ thiệt hại khi một vài váng bọt bị vỡ và đâm
vào tàu quỹ đạo trong quá trình cất cánh. Don
McCormack, người hướng dẫn phi công Đội Quản lý
Sứ mệnh (MMT) đã nói chuyện với Đội Đánh giá các
mảnh vỡ (DAT). Mặc dù không có những bức ảnh đủ
rõ để có thể đưa ra kết luận, nhưng DAT vẫn rất lo
l
ắng đến vấn đề này. Tuy nhiên trong buổi họp của
MMT, McCormack đã không nêu ra lo lắng đó và
trưởng nhóm của MMT, Linda Ham đã cho rằng vì
đội không làm được gì trong vấn đề này nên nó
không quan trọng lắm. Do Ham đã quyết định là va
đập váng bọt là chuyện tầm thường nên MMT đã
không thu thập các thông tin cần có, bao gồm cả
những bức ảnh để có thể đưa ra ước tính về thiệt hại.
Ngay từ đầu, MMT đã cho rằng câu hỏ
i liệu váng
bọt có thật sự gây thiệt hại nghiêm trọng hay không
đã được trả lời. Đội cũng cho rằng những bức ảnh là
không cần thiết bởi nó cũng chẳng giúp ích được gì
nhiều. Tuy nhiên, thực tế là không một người lãnh
26
đạo nào hiểu được rõ ràng về tầm quan trọng của
hướng giải quyết đó. Ham đã hỏi những câu hỏi
được định hình để có được câu trả lời mà cô mong
đợi: “Liệu chúng ta có thể nói rằng bất cứ miếng
váng bọt nào bị thất thoát cũng sẽ không gây thiệt
hại gì về “độ an toàn của chuyến bay” cho tàu quỹ
đạo do tỷ trọng không?”
Các nhóm nhỏ đề cao sự đồng lòng hơn là sự
bất
đồng về quan điểm. Các buổi họp của MMT rõ ràng
là thiếu sự tranh luận và ý kiến của số ít người.
Những buổi họp đó đã bị định hình quá mức bởi
những câu hỏi có sẵn câu trả lời của Ham, không
dành chút nỗ lực nào cho những nhận xét bị phản
đối từ những người khác. Ở đó cũng có rất ít sự đa
dạng về
kiến thức và kinh nghiệm, bởi ai cũng làm
việc tại NASA từ khi tốt nghiệp. Chỉ một ý kiến khác
biệt hay một kỹ năng khác thôi cũng có thể làm cho
nhóm sáng suốt hơn.
Ảnh hưởng trực tiếp
Các thành viên trong thị trường hay trong một cuộc
cá cược đều lấy phản hồi theo dạng mức giá hay số
điểm, nhưng trong những nhóm nhỏ, mọi người lại
ảnh hưởng trực tiếp đến nhau. Điều này có thể
khiến cho những đánh giá của họ ít kiên định và
cực đoan hơn. Thường thì những người nói nhiều
Trí tuệ đám đông
27
hơn là người tạo ra chương trình nghị sự, ngay cả
khi họ biết cũng chẳng nhiều hơn. Các nhóm cũng
dễ bị tổn thương đối với việc phân cực khi mọi
người liên tục so sánh mình với người khác và cố
gắng duy trì vị trí tương đối của mình. Khi một
nhóm tiến dần theo hướng cực đoan hơn, các thành
viên cũng di chuyển cùng với nó để duy trì vị trí
tương đố
i đó của mình, như vậy là cả nhóm cùng di
chuyển cùng nhau.
Các nhóm nhỏ hiện đang rất thịnh hành trong
đời sống và kinh doanh ở Mỹ, tuy nhiên có rất ít tổ
chức biết cách khiến cho chúng làm việc có hiệu quả.
Sẽ chẳng ích gì nếu họ không thể kết hợp các ý kiến
khác nhau và đưa ra quyết định. MMT chưa bao giờ
bỏ phiếu về việc cần làm.


Công ty: Gặp ông chủ mới, cũng giống như
ông chủ cũ?
Zara là công ty bán lẻ quần áo đã tìm được cách phối
hợp những tương tác của nó với các khách hàng hay
thay đổi bằng cách điều phối các nguồn lực của công
ty. Công ty đã cắt giảm thời gian chờ hàng xuống
còn hai tuần thay vì từ sáu cho đến chín tháng như ở
28
các công ty khác trong ngành. Tất cả các giám đốc
quản lý kho đều có những thiết bị cầm tay được kết
nối với các phòng thiết kế ở Tây Ban Nha. Họ làm
báo cáo theo ngày về sản phẩm nào đang được bán
và khách hàng thích loại nào. Với 14 nhà máy được
tự động hóa cao, Zara đã có những lần chạy vận
hành và những bài thử nhỏ sản phẩm của mình với
khách hàng, phối hợp với những yêu cầu của họ.
Zara không thuê làm bên ngoài, vì v
ậy công ty hoàn
toàn linh hoạt. Họ đã cố gắng kết hợp các cách
truyền thống về kinh doanh, kiểu phối hợp mà
chúng ta thường thấy qua những bộ phim găngxtơ
của Hollywood:


Bố Già, Phần II
– Sự phân cấp từ trên xuống,
cho phép một người có thể đưa ra quyết định
và cho phép các đầu tư dài hạn. Tuy nhiên
những người ở nhóm trên lại trở nên ngày
càng tách biệt so với những người trực tiếp
sản xuất và thông tin.


Heat
– một băng nhóm nhỏ, liên kết chặt chẽ,
có sự tin tưởng, sự chuyên môn hóa và có thể
thấy được kết quả trực tiếp, ngay lập tức
những nỗ lực của nhóm. Tuy nhiên nó lại bị
giới hạn bởi những nguồn lực của mình, và
một sơ suất hay một sự phản bội niềm tin có
thể làm tổn thương toàn bộ băng nhóm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét