Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
thành ở 3 miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Các nhà máy này đã thu
hút và giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Khi đất nước vừa
thoát khỏi ách thống trị, đang còn trong tình trạng kinh tế trì trệ kém phát triển
thì các nhà máy của ngành đóng một vai trò rất to lớn đối với đất nước.
Lúc đầu, các nhà máy chỉ sản xuất hàng hoá để phục vụ nhu cầu trong
nước. Sản lượng sản xuất ra không nhiều vì lúc đó máy móc, thiết bị còn lạc
hậu, toàn là những máy cũ nhập từ các nước xã hội chủ nghĩa, hơn nữa trình độ
quản lý cũng còn rất hạn chế. Ngay cả hàng sản xuất để phục vụ cho nhu cầu
trong nước cũng không đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng, mẫu mã còn nghèo
nàn ít ỏi.
Thời kì từ năm 1975 đến năm 1985 nền kinh tế nước ta hoạt động theo
cơ chế tập trung bao cấp, đầu vào và đầu ra của sản xuất được cung ứng theo chỉ
tiêu của Nhà nước, việc sản xuất và quản lý theo ngành khép kín và hướng vào
nhu cầu tiêu dùng nội địa là chính còn xuất khẩu trong giai đoạn này chỉ thực
hiện trong khuôn khổ Hiệp định và Nghị định thư của nước ta kí kết với khu vực
Đông Âu - Liên Xô trước đây. Do đó ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu đi
nước ngoài chủ yếu là sang thị trường Liên Xô và thị trường Đông Âu. Tuy
nhiên, hàng xuất khẩu chủ yếu là gia công hàng bảo hộ lao động cho hai thị
trường này với nguyên liệu, thiết bị do họ cung cấp. Sản lượng dệt may cho tới
năm 1980 đạt 50 triệu sản phẩm các loại, 80% xuất sang Liên Xô còn lại là
Đông Âu và khu vực II.
Đến cuối năm 1990, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa bị tan rã,
nước ta rơi vào thế hoàn toàn cô lập so với nhiều nước lớn mạnh khác, thị
trường xuất khẩu bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Nền kinh tế nước ta trở nên đình trệ,
thất nghiệp tăng, nhiều xí nghiệp bị đóng cửa, ngành dệt may cũng không thoát
khỏi tình trạng này.
Cùng thời gian đó Đảng và Nhà nước ta bắt đầu chính sách đổi mới
nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang cơ chế quản lý tự hạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa. Thời kì này, ngành dệt may gặp nhiều khó khăn phải đối
- 5 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
mặt với việc: thiếu vốn, thiếu công nghệ, đặc biệt thiếu đối tác đầu mối tiêu thụ
hàng hoá. Trong nhiều năm qua ngành đã phải đưa ra nhiều chiến lược, biện
pháp để duy trì sản xuất, đảm bảo cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng đồng thời tự lo vốn đổi mới thiết bị, tăng cường thiết bị
chuyên dùng, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến, hoàn thiện dần hệ thống quản
lí tổ chức…
Giai đoạn 1990 - 1995 nhờ có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành dệt may
Việt Nam. Mặc dù phát triển chậm hơn so với các nước láng giềng Châu Á,
nhưng ngành đã tự đứng dậy vươn lên, phát triển một cách đầy ấn tượng. Bước
đầu năm 1993 kim ngạch xuất khẩu đạt 350 triệu USD và đến cuối năm 1997
xuất khẩu đạt 1,35 tỷ USD. Không dừng lại ở con số này, hàng dệt may xuất
khẩu đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam nằm
trong chiến lược phát triển CNH, HĐH của đất nước trong thời gian tới.
Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,75 tỷ USD, trong 8 tháng đầu
năm 2003 này kim ngạch xuất khẩu đạt được xấp xỉ 2,597 tỷ USD và dự kiến
đến cuối năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sẽ đạt được 3,5 tỷ USD.
Với tốc độ tăng mạnh của công nghiệp dệt may nước ta hiện nay, các chuyên gia
có thể khẳng định ngành dệt may có thể đạt mục tiêu 4,5 - 5 tỷ USD xuất khẩu
vào năm 2005 và đến năm 2010 là 8 tỷ USD. (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt
Nam số 143 - ngày 2 tháng 8 năm 2003).
Các mặt hàng dệt may xuất khẩu cũng tương đối phong phú, đa dạng,
mẫu mã dần dần được cải tiến đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong
và ngoài nước. Bước đầu, ngành dệt may Việt Nam đã có tên tuổi trên một số thị
trường lớn trên thế giới: EU, Mĩ, Nhật…tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất
nước.
Đặc biệt ngày 23 tháng 4 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phê
duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2010 theo QĐ số
55/2001/QĐ-TTg. Với chiến lược này ngành dệt may có nhiều cơ hội mới để
- 6 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
phát triển đó là: Chính phủ có nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ, khuyến khích phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh như được hưởng ưu đãi về tín dụng đầu tư,
được Ngân hàng đầu tư và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh
bảo lãnh hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu, cho vay đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh với lãi suất ưu đãi, được hưởng thuế thu nhập ưu đãi 25%. Hiện nay,
ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam đang từng bước đổi mới để hội nhập vào xu
thế toàn cầu hoá của cả thế giới.
2.Lợi thế phát triển của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Thực tế cho thấy trong vài năm gần đây quần áo, sản phẩm của ngành
dệt may do các cơ sở trong nước sản xuất, chất lượng ngày càng được nâng cao,
mẫu mã phong phú đa dạng, tiêu thụ với khối lượng lớn trên thị trường. Nhiều
người tiêu dùng đã nhận xét: trong khi chất lượng hàng hoá không kém hàng
ngoại thì kiểu dáng và mẫu mã lại phù hợp hơn, giá cả rẻ hơn. Những thành tựu
mà ngành dệt may xuất khẩu đã đạt được trong thời gian gần đây chủ yếu là nhờ
vào nhiều yếu tố thuận lợi sẵn có của Việt Nam.
Với số dân trên 80 triệu người, tỷ lệ nữ giới lại rất lớn, đó là đội ngũ
lao động rất phù hợp cho ngành dệt may, một ngành đòi hỏi sự tỉ mỉ khéo léo,
cần mẫn. Người dân Việt Nam đặc biệt là phụ nữ Việt Nam nổi tiếng là những
người siêng năng chuyên cần, thông minh, nhanh nhẹn tháo vát, là điều kiện
thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam. Ở Việt Nam giá nhân công thấp ở mức
dưới 2,5 USD/giờ (thuộc loại thấp nhất trong khu vực). Chi phí đầu tư thấp nhờ
có sẵn nhà xưởng cho thuê với giá rẻ của các tổ chức Nhà nước và tiếp cận được
nhiều chủng loại thiết bị cơ bản không đắt tiền mới cũng như đã qua sử dụng
của một số nước thì chi phí sản xuất dệt may của Việt Nam là thấp 0,08 USD
(CFSX/phút) (CFSX: chi phí sản xuất) thấp hơn mức bình quân là 0,13 USD
bằng chi phí sản xuất ở Banglades, thấp hơn so với Trung Quốc (0,09 USD ).
- 7 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
Bảng giá thành sản xuất tính theo các nước
Nước
Chi phí sản xuất (USD)
(không gồm chi phí vận chuyển)
Xu hướng
Trung Quốc
0,09 ổn định
Hồng Kông
0,19 ổn định
Thái Lan
0,16 Tăng
Đài Loan
0,2 Tăng mạnh
Indonesi
0,10 ổn định
Việt Nam
0,08 ổn định
Trung Bình
0,13
Nguồn: Phân tích chi phí sản xuất SECO, 2001
Ngành dệt may là ngành không đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư lớn.
Để có thể xây dựng chỗ làm việc cho ngành dệt may thì vốn bỏ ra không nhiều
và thu hồi vốn cũng khá nhanh. Đối với Việt Nam một quốc gia còn nhiều khó
khăn về vốn đầu tư thì đây là một ngành rất thích hợp để phát triển kinh tế. Cũng
chính vì thế mà các cơ sở sản xuất dệt may xuất khẩu ngày càng tăng và phát
triển mạnh.
Ngoài ra, các công ty trong khu vực đóng một vai trò quan trọng trong
việc cung cấp các mối liên kết marketing thiết yếu với thị trường tiêu thụ và
cung cấp gần như toàn bộ nguyên liệu cần thiết. Các đối tác thương mại khu vực
Châu Á và liên minh Châu Âu (EU) đã đem đến cho Việt Nam những cơ hội rất
lớn trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài, điều này ý nghĩa rất quan trọng
đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
- 8 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
Tuy nhiên, nói vậy không phải ngành dệt may của Việt Nam hoàn toàn
chỉ có thuận lợi trên con đường phát triển. Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế
các nước đang bị giảm sút, thị trường bị co hẹp lại, ngành dệt may bị chịu nhiều
ảnh hưởng lớn của nền kinh tế thế giới. Hơn nữa, ngành dệt may xuất khẩu của
Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều yếu kém như vấn đề về năng lực sản xuất của
doanh nghiệp còn nhỏ bé cả về quy mô lẫn công suất, chất lượng sản phẩm sản
xuất ra chưa thật sự đem lại uy tín cho doanh nghiệp, trình độ công nghệ của
ngành còn lạc hậu so với các nước trong khu vực từ 10 đến 20 năm, nguyên phụ
liệu cho sản xuất cung cấp không ổn định, có rất nhiều nguyên phụ liệu mà trong
nước không sản xuất được nên chủ yếu dựa vào nhập khẩu, vì vậy giá thành so
với các nước trong khu vực còn cao hơn rất nhiều.
Với những yếu kém của ngành dệt may Việt Nam hiện nay đã làm
giảm sức cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường trong khu vực và trên thị
trường quốc tế do đó ngành đang nỗ lực đầu tư, đưa ra các biện pháp nhằm tăng
cường sức cạnh tranh và khẳng định uy tín mặt hàng dệt may của Việt Nam ở thị
trường trong và ngoài nước.
3.Vị trí và vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển nền kinh tế
quốc dân.
Ngành dệt may đã tạo ra sản phẩm rất quan trọng không thể thiếu đối
với cuộc sống của mỗi người. Trong 10 năm qua ngành dệt may xuất khẩu đã trở
thành một ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, có những
bước tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân
là 24,8%/năm, vượt lên đứng ở vị trí thứ nhất trong cả nước về kim ngạch xuất
khẩu, vượt cả qua ngành dầu khí. Mặt hàng dệt may đã trở thành một trong 10
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế,
góp phần thúc đẩy nhanh tự do hoá thương mại. Mặc dù hiện nay ngành dệt may
Việt Nam còn nhiều điểm yếu kém, bất cập nhưng cũng có ý nghĩa to lớn đối với
sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Xuất khẩu dệt may tăng lên
- 9 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
tạo đà cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho đội ngũ lao động dư thừa ngày càng tăng mạnh của Việt Nam. Hơn 10
năm qua ngành đã thu hút hơn nửa triệu lao động trong cả nước. Mặt khác nhờ
có sự tăng trưởng mạnh của xuất khẩu nên đã đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất
nước, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Vị trí của ngành dệt may xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Chỉ số Đơn vị 1995 1999 2000 2001
1.GDP Tỷ VNĐ
228,89
2
339,942 444,139 474,340
2.CNN Tỷ VNĐ 34,318 70,767 82,992 94,780
3.Ngành dệt may Tỷ VNĐ 3,100 7,700 9,120 10,260
4.Tỉ lệ 3/2 % 9,03 10,88 11,0 10,8
5.Tỉ lệ 3/1 % 1,4 1,9 2,1 2,1
6. Tổng giá trị XK Triệu USD 5.449 11.540 14.308 15.810
7.XK dệt may Triệu USD 850 1.747 1.892 1.962
8.Tỷ lệ 7/6 % 15,6 15,1 13,2 12,4
Nguồn: Theo thống kê của Hiệp hội VITAS, năm 2001
Nếu như ngành dệt may vào năm 1995 chỉ chiếm 3,1% trong toàn
ngành công nghiệp nhẹ thì đến năm 2001 đã tăng lên 10,26%, chiếm 21% trong
GDP, góp phần làm tăng GDP của cả nước. Xuất khẩu mặt hàng dệt may đóng
một vai trò đáng kể vào sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu hàng hoá nước
ta trong thời gian qua. Năm 1995 xuất khẩu dệt may chỉ đạt 850 triệu USD đến
năm 2001 con số đã tăng lên là 1,962 tỷ USD và năm 2002 đạt kim ngach xuất
khẩu là 2,752 tỷ USD, vượt mức kế hoạch mà ngành đã đặt ra trong năm 2002.
Qua đây ta thấy xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam trong thời gian gần
đây rất có hiệu quả.
- 10 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
II. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU, TIÊU THỤ HÀNG DỆT
MAY TRÊN THẾ GIỚI
1.Dung lượng thị trường thế giới về hàng dệt may
Trên thế giới hiện nay có khoảng 194 quốc gia sản xuất và xuất khẩu
hàng dệt may. Nhu cầu về hàng dệt may trên thế giới không phải là nhỏ. Những
năm gần đây sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực Châu Á, từ năm 2002 trở
đi, kinh tế thế giới đã hồi phục, nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may cũng tăng lên,
nhất là tại các nước Châu Á. Bước sang thế kỉ mới này, ngành gia công sợi Châu
Á sẽ phát triển trong môi trường có nhiều thuận lợi, ngành may mặc cũng đóng
góp một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước trong khu vực.
Tình hình nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới
(Đơn vị: Triệu USD)
Năm 1990 1995 1999 2000 2001
May 112074 170325 200648 214123 209645
Dệt 131564 148055 142954 149370 138590
Tổng cộng 243638 318380 343602 363493 348235
Nguồn: Theo thống kê hàng năm của ASEAN Textile
Nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới ngày càng gia tăng
mạnh. Năm 2000 kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của thế giới đã tăng lên
363,493 tỷ USD trong đó mặt hàng may mặc tăng lên là 214,12 tỷ USD tương
đương 6,7% so với năm 1999 và tăng lên 91% so với năm 1990. Đối với mặt
hàng dệt, kim ngạch nhập khẩu là 149,370 tỷ USD tăng 4,5% so với năm 1999;
- 11 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
và tăng 13,5% so với kim ngạch nhập khẩu năm 1990. Qua bảng ta có thể thấy,
lượng nhập khẩu về hàng may mặc tăng lên rất lớn từ năm 1990 đến năm 2000,
còn lượng nhập khẩu về hàng dệt thì tăng không đáng kể. Tuy nhiên đến năm
2001 thì lượng nhập khẩu hàng dệt may bị chững lại, tổng kim ngạch nhập khẩu
của thế giới chỉ đạt 348,235 tỷ USD giảm đi 4,2% so với năm 2000. Hàng dệt
giảm 10,788 tỷ USD tương đương 52,25%. Nguyên nhân là do nhu cầu của thị
trường thế giới giảm mạnh đối với hàng dệt, đồng thời do nền kinh tế thế giới
gặp nhiều khó khăn đặc biệt là 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật
đang rơi vào tình hình khủng hoảng, nền kinh tế bị đình trệ. Tại Mỹ và Nhật
Bản lượng hàng dệt may nhập khẩu từ các nước trên thế giới giảm đáng kể.
Trong đó tại thị trường Mỹ lượng nhập khẩu hàng may mặc giảm 724 triệu
USD, còn lượng hàng dệt nhập khẩu vào thị trường này cũng giảm 484 triệu
USD. Thị trường Nhật nhập khẩu hàng dệt giảm đi 190 triệu USD, hàng may
mặc giảm 516 triệu USD. Ngoài ra, thị trường EU là một trong những thị trường
lớn của thế giới về tiêu thụ hàng dệt may thì lượng nhập khẩu cũng bị giảm
xuống đáng kể, nhập khẩu hàng may mặc giảm 812 triệu USD, hàng dệt giảm
3086 triệu USD.
Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của một số thị trường lớn trên thế giới
(Đơn vị: Tỷ
USD)
Thị Năm 1990 Năm 1995 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
trường Dệt May Dệt May Dệt May Dệt May Dệt May
EU
50.37
0
56.84
4
57.22
7
74.18
3
51.03
7
82.20
4
48.70
6
80.08
4
45.62
0
79.263
Nhật 4.106 8.737 5.985
18.75
8
40547
16.40
2
4.939
19.70
9
4.749 19.148
Mỹ 6.370
26.97
7
10.44
1
41.37
6
14.30
5
58.78
5
16.00
8
67.115
15.49
2
66.391
TQ, HK
10.18
2
6.913
16.89
5
12.65
4
12.65
2
14.75
7
13.71
7
16.00
8
12.17
7
16.098
ơ
- 12 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
TQ, HK: Trung Quốc và Hồng Kông
Nguồn: Thống kê hàng năm của ASEAN Textile năm 2001
Nhìn chung nhu cầu mặt hàng dệt may trên thế giới tăng nhanh (trừ
trường hợp năm 2001 là ngoại lệ do ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ, Nhật bị
khủng hoảng). Trong đó ta cũng thấy rõ, hàng năm thị trường EU tiêu thụ một
khối lượng lớn hàng dệt may (cả mặt hàng dệt kim và hàng may mặc). Do đó để
đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt kim thì cần đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này vào
thị trường EU và thị trường Nhật Bản là tốt nhất.
Hiện nay, trên thế giới Nhật và Mỹ là 2 quốc gia tiêu thụ hàng dệt may
nhiều nhất thế giới, đặc biệt là hàng Trung Quốc. Để cạnh tranh với hàng Trung
Quốc, Mỹ có thể sẽ điều chỉnh nguồn hàng nhập khẩu. Tại Mỹ, giá cạnh tranh
rất gay gắt, nhu cầu tiêu dùng đang dần thu hẹp lại nên giá cả ở thị trường này
đang giảm liên tiếp. Đồng thời Mỹ cũng đang hạn chế việc xuất khẩu hàng dệt
may từ các nước đang phát triển đây là điều bất lợi cho nước ta khi xuất khẩu
vào Mỹ. Còn Nhật Bản là nước không có hạn ngạch hạn chế nhập khẩu về mặt
hàng dệt may nên thị phần hàng dệt may của Trung Quốc chiếm hơn 80% tổng
nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường này.
Việt Nam đang tập trung đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ, Nhật
và EU. Tuy nhiên, để thực hiện thành công điều này thì Việt Nam còn phải đối
mặt với không ít khó khăn.
2.Đặc điểm một số thị trường nhập khẩu chính
a.Thị trường Mỹ
Thị trường Mỹ là một thị trường lớn và năng động nhất thế giới. Nhu
cầu tiêu dùng ở thị trường này là rất lớn. Với dân số hơn 280 triệu người, vào
năm 2001 người dân ở Mỹ tiêu thụ tới 272 tỷ USD cho quần áo, bình quân một
người Mỹ mua khoảng 54 bộ quần áo. Đây là thị trường lớn mà nhiều năm qua
Trung Quốc đang là nhà xuất khẩu lớn. Mặc dù hàng Việt Nam vẫn kém chất
- 13 -
Khoá Luận tốt nghiệp Cao Thị Hương-Lớp Nhật 1-K38F
lượng so với hàng Trung Quốc nhưng hiện nay ở thị trường Mỹ những nhà nhập
khẩu lớn đang muốn tìm nhà cung cấp khác thay thế nhà cung cấp Trung Quốc
đặc biệt sau năm 2005 khi mọi quy định về hạn ngạch bị dỡ bỏ. Đây là một
thuận lợi lớn đối với ngành dệt may Việt Nam. Bên phía đối tác Mỹ rất chú
trọng đến thời gian giao hàng và chất lượng sản phẩm.
Người tiêu dùng Mỹ là những người đã quen dùng hàng hiệu có tên
tuổi (mặc dù sản phẩm đó đã được may mặc hay gia công tại Việt Nam). Những
hàng hiệu nổi tiếng là những sản phẩm dễ dàng được chấp nhận ở thị trường
này. Tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ đặt ra cũng tương đối khắt
khe. Các công ty dệt may xuất khẩu cần đạt tiêu chuẩn ISO 9.000, ISO 14.000,
SA 8000, WRPA…Đây là một yêu cầu hoàn toàn mới đối với phía Việt Nam.
Hiện nay Tổng công ty dệt may Việt Nam có 28 doanh nghiệp thực
hiện theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, 2 doanh nghiệp thực hiện ISO
14.000, 4 doanh nghiệp thực hiện SA 8.000. Trước mắt, phía Mỹ yêu cầu các
doanh nghiệp Việt Nam làm theo SA 8000, khi chưa có chứng chỉ, nhằm đáp
ứng được những điều kiện môi trường làm việc của người lao động. Các doanh
nghiệp dệt may Việt Nam đang nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tạo
điều kiện lao động để đáp ứng được những yêu cầu của thị trường này.
Hiện nay, hàng may mặc Việt Nam còn đang ở mức thang điểm thấp
trong đánh giá chất lượng của người tiêu dùng Mỹ - theo đánh giá của hiệp hội
dệt may và da giầy Mỹ (AAFA). Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam muốn vào thị
trường này cần phải hết sức nỗ lực. Hơn nữa, doanh nghiệp Mỹ cũng nhìn vào
khả năng cung cấp hạn ngạch xuất khẩu, các chương trình ưu đãi thuế quan,
nguồn cung cấp nguyên liệu, chất lượng lao động, sự ổn định của đồng tiền,
năng lực xuất khẩu, mức độ tuân thủ các thủ tục hải quan Mỹ, môi trường lao
động…AAFA tỏ rõ thái độ: “Các bạn cần phải sản xuất cái chúng tôi cần, cần
kiên nhẫn với thị trường Mỹ và chúng tôi sẽ kiên nhẫn với bạn”. AAFA dự báo,
các doanh nghiệp Việt Nam phải tăng năng suất 50% mới có khả năng cạnh
tranh lâu dài trên thị trường dù là hàng đó có giá cả thấp.
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét