Chuyên đề tốt nghiệp
ơng thân, tơng ái vốn có từ trong nhân dân, đồng thời cũng đòi hỏi giới chủ, giới
thợ và Nhà nớc từng bớc can thiệp để duy trì lực lợng công nhân cần thiết cho xã
hội và đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động cùng gia đình họ, giúp cho sản
xuất kinh doanh ổn định và phát triển, từ đó làm cho nền kinh tế ngày một phát
triển hơn.
Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa nhiều vấn đề của giới chủ
và giới thợ, cùng với sự đổi mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất n-
ớc, cùng với trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của ngời lao động
ngày càng đợc nâng cao, cách chủ động khắc phục khi không may xảy ra rủi ro
với họ ngày càng đợc hoàn thiện.Tuy nhiên chỉ khi có sự ra đời của BHXH thì
những tranh chấp cũng nh những khó khăn mới đợc giải quyết một cách ổn thoả
và có hiệu quả nhất. Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội
loài ngời trong quá trình phát triển đất nớc.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên
trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần
thiết phải tiến hành bảo hiểm cho ngời lao động. Vì vậy, BHXH đã trở thành
nhu cầu và quyền lợi của ngời lao động và đợc thừa nhận là một nhu cầu tất yếu
khách quan, một trong những quyền lợi của con ngời nh trong Tuyên ngôn nhân
quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10-12-1948 đã nêu:
Tất cả mọi ngời với t cách là thành viên của xã hội có quyền hởng
BHXH.
II. Vai trò và nguyên tắc của BHXH
1. Vai trò của BHXH
1.1. Đối với ngời lao động
Trong cuộc sống hàng ngày, con ngời không thể tránh khỏi những rủi ro
nh ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu rồi chết Tất cả
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
5
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
những rủi ro này đều có thể xảy ra đối với bất cứ ngời lao động nào, tại bất cứ
thời điểm nào trong bất cứ hoàn cảnh nào trong cuộc sống hàng ngày của con
ngời. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi đất nớc đang ngày càng hoàn thiện
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì những rủi ro này lại càng diễn ra
một cách thờng xuyên và có tính chất ngày càng phổ biến hơn vì sự biến động
về thị trờng lao động và sản xuất kinh doanh đa dạng hơn, phức tạp hơn. Khi
những rủi ro này xảy ra với những ngời lao động thì sẽ gây cho họ những khó
khăn cả về vật chất lẫn tinh thần, gây cho họ mất hoặc giảm thu nhập, từ đó gây
ra những ảnh hởng không tốt không chỉ cho chính anh ta, gia đình anh ta mà còn
cho cả cộng đồng xã hội loài ngời. Với t cách là một trong những chính sách
kinh tế xã hội của Nhà nớc, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những ngời
lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh khắc phục những khó khăn bằng cách tạo ra
cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi, giúp họ ổn
định đợc cuộc sống, yên tâm trong công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tơng
lai, từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng xuất lao động cũng nh chất l-
ợng công việc cho xí nghiệp, cơ quan họ đang làm nói riêng và cho toàn bộ xã
hội nói chung.
1.2. Đối với ngời sử dụng lao động
Để có đợc sản phẩm phục vụ cho cuộc sống của con ngời và sự phát triển
của xã hội thì cần phải có ngời tạo ra sản phẩm và nhờ vào quá trình lao động
sản xuất để tạo ra sản phẩm cần thiết cho con ngời, cho xã hội. Những ngời biết
vận dụng sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, đó chính là những ngời chủ sử
dụng lao động. Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đợc đảm bảo thì ngời
chủ phải tạo đợc mối quan hệ tốt với ngời lao động, giải quyết những vấn đề
thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đối với ngời lao động thật tốt để họ yên
tâm lao động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
6
Chuyên đề tốt nghiệp
hăng hái hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuát kinh
doanh của ngời chủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao. Muốn vậy ngời
chủ sử dụng lao động phải tham gia đóng BHXH cho những ngời lao động của
mình để có thể đảm bảo những khoản chi trả cần thiết, kịp thời đến ngời lao
động khi họ gặp những rủi ro bất chắc. Việc tham gia đóng góp BHXH cho ngời
lao động của ngời chủ sử dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn, nâng cao năng suất,
hiệu quả lao động sản xuất của doanh nghiệp cũng nh nâng cao thu nhập cho
ngời lao động và góp vào việc phát triển nền kinh tế của đất nớc.
1.3. Đối với xã hội
Trớc tiên cần phải khẳng định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động
dịch vụ, cơ quan BHXH là một Doanh nghiệp sản xuất ra những dịch vụ
bảo hiểm cho ngời lao động, một loại dịch vụ mà bất cứ ai cũng cần đến
(không phải chỉ cán bộ, công nhân viên chức mới cần). Nếu các doanh nghiệp
này càng sản xuất ra nhiều loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu cầu) thì giá
trị của những sản phẩm dịch vụ này cũng đợc tính trực tiếp vào tổng sản phẩm
xã hội.
Thứ hai, với t cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà
nớc, BHXH sẽ bảo hiểm cho ngời lao động, hoạt động BHXH sẽ giải quyết
những trục trặc, rủi ro xảy ra đối với những ngời lao động, góp phần tích
cực của mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức
lao động. Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao
động cá nhân, đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng
suất lao động xã hội. Với sự trợ giúp của ngời lao động khi gặp phải rủi ro bằng
cách tạo ra thu nhập thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách
tiêu dùng quốc gia làm tăng sự tiêu dùng cho xã hội.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
7
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
Thứ ba, với t cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ
tới hệ thống tài chính ngân sách Nhà nớc, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân
hàng. Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát
triển quỹ bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu t phát triển
phần nhàn rỗi của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất
nớc, góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp
phần quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho ngời lao đông. Từ đó góp phần
giải quyết tình trạng thất nghiệp của đất nớc, góp phần tăng thu nhập cá nhân
cho ngời lao động nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng nh tổng sản
phẩm quốc dân nói chung.
Thứ t, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ
phân phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối lại thu
nhập này đợc tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều ngang giữa
ngời khoẻ và ngời già, ngời đang làm việc với ngời đã nghỉ hu, ngời trẻ tuổi với
ngời lớn tuổi, giữa nam với nữ, ngời đang hởng trợ cấp với ngời cha hởng trợ
cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh
tế xã hội, giữa những ngời có thu nhập cao và ngời có thu nhập thấp. BHXH
không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của ngời giàu
chia cho ngời nghèo một cách võ đoán. ý tởng của BHXH nhiễu điều phủ lấy
giá gơng, là đoàn kết tơng trợ, phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có
nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là
tiềm lực của dân tộc ta đã đợc lịch sử chứng minh.
2. Một số nguyên tắc của BHXH
2.1) Mọi ngòi lao động trong mọi trờng hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm đều có quyền đợc BHXH .
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Quyền đựơc BHXH của ngời lao động là một trong những biểu hiện cụ
thể của quyền con ngời. Nhng khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên
Nhà nớc phải tạo điều kiện và môi trờng kinh tế xã hội, về chính sách và luật
pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết. Đồng thời, những ngời sử dụng lao
động và ngời lao động phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình.
Không phải là cái có sẵn nên trớc hết phải tìm cách tạo ra nó. ở mỗi nớc không
có sự đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ
có BHXH trong thực tiễn. Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính
BHXH là điều kiện cơ bản nhất để ngời lao động đợc hởng quyền BHXH.
2.1. Nhà nớc và ngời sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH đối với
ngời lao động, ngời lao động cũng có trách nhiệm phải tự BHXH cho
mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trờng, trong đó Nhà nớc
có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nớc. Với
vai trò này Nhà nớc có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng
thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Cùng với sự
tăng trởng sự phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không
mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến
những rủi ro cho ngời lao động. Khi xảy ra tình trạng nh vậy nếu không có
BHXH thì Nhà nớc vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ ngời lao động dới một
dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống ngời lao động ổn định
mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã hội của đất nớc ổn định. Vì vậy, khi trong
xã hội loài ngời xuất hiện BHXH một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối
với ngời lao động- so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nớc càng có
điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia dạng hoạt động đó.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
9
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
Đối với ngời sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tơng tự nh trên
nhng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. ở đó giữa ngời lao động và ngời
sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Ngời sử dụng lao động muốn ổn
định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu t để có máy móc thiết bị
hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống của ngời lao
động mà mình sử dụng. Khi ngời lao động làm việc bình thờng thì phải trả lơng
(trả công) thoả đáng cho ngời lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp trong đó có rất nhiều trờng hợp gắn với quá trình lao
động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách
nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có nh vậy ngời lao động mới yên tâm tích cực lao
động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho
doanh nghiệp.
Đối với ngời lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải
hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro của bản
thân. Vì thế, nếu muốn đợc BHXH tức là muốn nhiều ngời khác hỗ trợ cho
mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều ngời khác thì tự mình phải gánh
chịu trực tiếp và trớc hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân ngời lao động phải có
trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
2.2. BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình
thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.
ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải tham
gia BHXH đối với ngời lao động của cả ba bên (Nhà nớc, ngời sử dụng lao động
và ngời lao động) trong nền kinh tế thị trờng. Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm
này là đóng phí BHXH đầu kỳ. Nhờ sự đóng góp đó mà phơng thức riêng có của
BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối thu nhập
theo cả chiều dọc và chiều ngang mới đợc thực hiện. Hơn nữa nó còn tạo ra mối
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
10
Chuyên đề tốt nghiệp
quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm với quyền lợi góp phần phòng
chống những hiện tợng nhiễu trong hệ thống hoạt động mang lại nhiều lợi ích
cho mọi ngời có liên quan này.
2.3. Phải lấy số đông bù số ít
Cách làm riêng có của BHXH là mọi ngời tham gia BHXH đóng góp cho
bên nhận BHXH (cơ quan BHXH chuyên nghiệp) tồn tích dần thành quỹ tài
chính độc lập và tập trung dùng để chi trả trợ cấp cho những ngời lao động khi
và chỉ khi họ bị giảm bớt hoặc mất thu nhập theo các chế độ xác định. Mức
đóng góp BHXH thờng rất thấp nên phần lớn những ngời lao động trong nớc đều
có thể đóng góp dễ dàng. Nhng điều quan trọng là sự đóng góp đó đợc thực hiện
đều kỳ và là đóng góp của số đông.
2.4. Phải kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả năng và phơng thức đáp ứng
nhu cầu BHXH .
Trong BHXH cả ba bên tham gia: Ngời sử dụng lao động, ngời lao động
và Nhà nớc đều nhận đợc nhiều lợi ích. Nhng lợi ích nhận đợc không phải luôn
luôn nh nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với
nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm việc và hởng
trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho ngời lao động nhng lại gây khó khăn cho ngời
chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho ngời sử dụng lao động thì
Nhà nớc lại phải gánh chịu.
2.5. Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm,
nhng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lơng nh trợ cấp
ốm đau, thai sản, hu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp
BHXH. Nh đã biết, tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ng-
ời lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ ngời lao động có
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
11
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
sức khoẻ bình thờng, có việc làm bình thờng và thực hiện công việc nhất định
mới có tiền lơng. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện đợc
công việc nhất định hoặc không việc làm mà trớc đó có tham gia BHXH thì chỉ
có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lơng tạo ra đợc. Còn nếu cố
tìm cách trả trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì không một ngời lao
động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lơng mà ngợc lại
họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản để hởng trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ, phơng
thức dàn trải rủi ro của BHXH cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH bằng tiền
lơng lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lơng thì chẳng khác gì bị rủi ro
đem rủi ro của mình dàn trải hết cho những ngời khác.
Nh vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi
làm. Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp
thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi đó
BHXH mới có ý nghĩa an sinh.
2.6. Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện.
Cho đến nay, ở nớc ta việc tham gia BHXH vẫn cha trở thành tập quán,
hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trớc mắt với lợi ích
lâu dài của ngời lao động vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy cần có sự kết hợp
bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH . Sự bắt buộc nên thực hiện
đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động với thu nhập cơ
bản. Đối với những ngời có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với ngời lao động
độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện.
2.7. Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nớc, đồng thời
phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.
Hệ thống BHXH của một nớc thờng gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong
đó bộ phận lớn nhất do Nhà nớc tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm toàn bộ
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
12
Chuyên đề tốt nghiệp
những ngời hởng lơng từ Ngân sách Nhà nớc và những ngời lao động thuộc
những khu vực kinh tế quan trọng của đất nớc. Các bộ phận nhỏ hơn do các đơn
vị kinh tế và t nhân tổ chức ra để bảo hiểm cho một số đối tợng hạn chế do pháp
luật quy định. Trong bộ phận do Nhà nớc tổ chức còn có thể có một số bộ phận
BHXH chuyên ngành nh: BHXH đối với công chức, BHXH đối với quân nhân
hởng lơng và một số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế có tính chất đặc thù (đ-
ờng sắt, khai thác mỏ ). Các bộ phận BHXH đựơc tổ chức nh thế nào, nhiều hay
ít là do đi ều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và do Nhà nớc quy định. ở nớc ta do
những diều kiện kinh tế xã hội cha cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện
BHXH mà chỉ có BHXH của Nhà nớc.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống nhất
trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện, tính cục bộ hoặc
những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu
thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ xung những
u điểm cho nhau.
2.8. BHXH phải đợc phát triển dần từng bớc phù hợp với các điều kiện kinh
tế xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.
BHXH của một nớc gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện
kinh tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự
đồng bộ của nền pháp chế của nớc đó. Trong tình hình nớc ta, kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang chuyển
động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm chắc chắn,
tính toán thận trọngvà có bớc đi phù hợp.
Mỗi nguyên tắc trên đây không tồn tại và phát huy tác dụng một cách đơn
lẻ mà chúng vận động trong một hệ thống chặt chẽ. Bởi vậy, cần vận dụng
Sinh viên: Nguyễn Thị Hơng Lớp: Bảo Hiểm 41A
13
Giảng viên hớng dẫn: Nguyễn Thị Chính
chúng một cách tổng hợp và hợp lý vào mỗi vấn đề cụ thể thì mới có thể đạt
hiệu quả nh mong muốn.
III Bản chất của BHXH .
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát
triển, kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy các nhà kinh tế cho rằng sự ra đời và phát
triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế chậm
phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có hệ thống BHXH vững
mạnh đợc. Kinh tế càng phát triển hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ
BHXH càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú.
Vì vậy, thực chất của BHXH là thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh
tế cho ngời lao động và gia đình họ. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu
nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nớc (GDP) để thoả mãn an toàn kinh tế
cho ngời lao động và an toàn xã hội. BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản
chất xã hội. Về mặt kinh tế nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập đời sống của
ngời lao động và gia đình họ luôn đợc bảo đảm trớc những rủi ro, bất trắc xã
hội. Về mặt xã hội, do có sự san sẻ rủi ro của BHXH, ngời lao động chỉ phải
đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhng xã hội
sẽ có một lợng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra. ở đây, BHXH đã
thực hiện nguyên tắc lấy của số đông bù cho số ít.
Tuy nhiên tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan
xen lẫn nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho ngời lao động và gia đình họ
là đã nói đến tính xã hội của BHXH. Ngợc lại, khi nói đến sự đóng góp ít nhng
lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH.
Dới góc độ kinh tế, bản chất của BHXH chính là sự đảm bảo thu nhập,
bảo đảm cuộc sống cho ngời lao động và gia đình họ khi họ giảm hay mất khả
Trờng ĐHKTQD-HN Khoa: Kinh Tế Bảo Hiểm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét