Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
433 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Eximbank Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
KDNT Kinh doanh ngoại tệ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng Thương mại
TMCP Thương mại cổ phần
TCTD Tổ chức Tín dụng
XNK Xuất Nhập Khẩu
AUD Dollar Úc
CAD Dollar Canada
DEM Mác Đức
EUR Đồng Euro (đồng tiền chung Châu Âu)
FRF Franc Pháp
GPB Bảng Anh
JPY Yên Nhật
SGD Dollar Singapore
USD Dollar Mỹ
VND Đồng Việt Nam
5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
2.1 Doanh số mua bán ngoại tệ tại Eximbank.
2.2 Doanh số thanh toán quốc tế tại Eximbank.
2.3 Doanh số chi trả kiều hối tại Eximbank.
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank.
2.5 Bảng so sánh điểm giao dòch của Eximbank với một số NH TMCP.
2.6 Bảng so sánh quy mô vốn của Eximbank với một số NH TMCP.
6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1.1 Công thức tính tỷ giá kỳ hạn.
1.2 Công thức tính tỷ giá mua kỳ hạn.
1.3 Công thức tính tỷ giá bán kỳ hạn.
1.4 Công thức tính điểm Swap (Swap point).
1.5 Đồ thò biểu diễn vò thế của khách hàng mua quyền chọn mua ngoại
tệ.
1.6 Đồ thò biểu diễn vò thế của Ngân hàng bán quyền chọn mua ngoại tệ.
1.7 Đồ thò biểu diễn vò thế của khách hàng mua quyền chọn bán ngoại tệ.
1.8 Đồ thò biểu diễn vò thế của Ngân hàng bán quyền chọn bán ngoại tệ.
2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN.
2.2 Đồ thò biểu diễn doanh số mua bán ngoại tệ bằng VND.
2.3 Đồ thò biểu diễn doanh số mua bán ngoại tệ chuyển đổi.
2.4 Đồ thò biểu diễn doanh số thanh toán quốc tế của Eximbank.
2.5 Đồ thò biểu diễn doanh số chi trả kiều hối của Eximbank.
2.6 Đồ thò biểu diễn kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của
Eximbank.
2.7 Đồ thò biểu diễn tỷ lệ thu về hoạt động KDNT/tổng thu nhập của
Eximbank.
7
LỜI MỞ ĐẦU
I – TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tiếp tục thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, tạo đà cho Việt Nam phát
triển và hội nhập với Thế giới, Chính phủ luôn xác đònh chính sách kinh tế đối
ngoại là
“đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi
tổ chức kinh tế”. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), đã mở ra cho Việt Nam kỷ nguyên hội nhập
sâu, rộng vào nền kinh tế Thế giới.
Để có thể hội nhập thành công vào nền kinh tế Thế giới, Việt Nam phải đẩy
mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại, hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động ngân
hàng, trong đó chú trọng hoạt động kinh doanh ngoại tệ và coi đây là một trong
những phương tiện để Việt Nam thâm nhập vào thò trường ngoại hối quốc tế và
thúc đẩy, hỗ trợ các hoạt động kinh tế khác phát triển.
Trước đây, trong quá trình hoạt động, các ngân hàng chỉ quan tâm và dừng
lại ở các nghiệp vụ truyền thống như huy động và cho vay, hoạt động kinh doanh
ngoại tệ được xem như các hoạt động phụ trợ, lợi nhuận thu được từ lónh vực này ít
và không được chú ý nhiều. Chỉ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997,
các hoạt động truyền thống như tín dụng lâm vào khủng hoảng và sự biến động tỷ
giá ngoại tệ đã cho thấy ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế thì hoạt động kinh
doanh ngoại tệ mới dần xác đònh vai trò của mình.
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam ra đời trong bối cảnh nền kinh
tế đang trong quá trình hội nhập và mục tiêu thành lập Eximbank nhằm hỗ trợ phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế và hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Hoạt động
kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank được triển khai từ những năm đầu thành lập, đến
nay có bước phát triển mạnh. Tuy nhiên, kinh doanh ngoại tệ là hoạt động quan
trọng của ngân hàng vì hoạt động này tạo ra thu nhập cao và góp phần thúc đẩy
8
các hoạt động khác phát triển do đó hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank
đang chòu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các ngân hàng TMCP trong nước (nhất là
phong trào thành lập ngân hàng trong những năm gần đây đã có nhiều ngân hàng
mới được thành lập) cũng như sự cạnh tranh của các NHNNg vào hoạt động tại
Việt Nam theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Ngoài ra, bản thân sự phát
triển đòi hỏi Eximbank phải không ngừng áp dụng các sản phẩm mới, nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ để phục vụ khách hàng tốt hơn và đáp ứng
yêu cầu trong tình hình mới.
Vì lý do đó, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại
Eximbank là rất cần thiết và mang tính thời sự cao. Tác giả chọn đề tài “Một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân
hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam” với mong muốn tìm hiểu thực tế các
nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại
tệ tại Eximbank, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghò nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank, góp phần cung cấp các thông tin hữu
ích cho các nhà quản lý của Eximbank và những ai quan tâm đến vấn đề này.
II – ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu là hoạt động kinh doanh ngoại
tệ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam.
III – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn là phương pháp duy vật lòch
sử, phương pháp thống kê, so sánh cùng với việc phỏng vấn trực tiếp cán bộ, nhân
viên Phòng Kinh doanh Tiền tệ Eximbank kết hợp với kiến thức của các môn học
về tài chính, ngân hàng và những kinh nghiệm thực tế của bản thân trong lónh vực
kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank.
IV – KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được chia thành các chương sau:
9
Chương 1: Lý luận tổng quan về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của
Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng
TMCP Xuất Nhập Khẩu VN.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh ngoại tệ tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu VN.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết các vấn đề của đề tài còn hạn
chế vì vậy luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các Thầy (Cô) và những ai quan tâm tới đề tài luận văn. Tác giả xin
cảm ơn đến Thầy PGS.TS Trần Ngọc Thơ, các Thầy (Cô) Trường Đại học Kinh tế
Tp.HCM và đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức để Tôi hoàn
thành khoá học Cao học tại Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM và hoàn thành luận
văn này.
10
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệä của NHTM ra đời từ sự phát triển quan hệ
thương mại giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các quốc gia. Trong từng lãnh thổ, từng
quốc gia lưu hành một loại đồng tiền riêng đã gây trở ngại khó khăn cho việc mua
bán, thanh toán, đồng thời rất phức tạp trong việc chuyển đổi tiền tệ. Quá trình đó
thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên đảm nhiệm các chức năng riêng biệt do
lưu thông tiền tệ đòi hỏi như:
- Nhận đổi tiền: chuyển đổi từ tiền của vùng này ra tiền của vùng khác, tiền
của nước này ra tiền của nước khác, đổi tiền lấy vàng, bạc và ngược lại.
- Giữ hộ tiền và thanh toán: nhận tiền ký gửi, nhận bảo quản vàng bạc… từ đó
tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh tiền tệ lúc bấy giờ thực hiện một
cách rộng rãi việc phát hành chứng thư làm phương tiện thanh toán thay cho
tiền.
Lúc đầu các nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh toán không nhằm mục
đích tạo lợi nhuận mà chỉ có mục đích đơn thuần vì nhu cầu có một loại tiền khác
để giao dòch cho tiện lợi. Khi mua hàng hoá dòch vụ ở đâu thì cần tiền ở nơi đó
hoặc cần sử dụng tiền mà ở nơi đó chấp thuận nhưng về sau người ta ý thức được
nhiều vấn đề phức tạp hơn có liên quan đến mục đích bảo vệ giá trò tài sản hoặc
mục tiêu kiếm lời.
Chính từ đó mới phát sinh những vụ mua bán ngoại tệ kiếm lời, còn gọi là
KDNT hay đầu cơ ngoại tệ. Trước những năm 1980, thò trường hối đoái chủ yếu
11
phục vụ các nhà xuất nhập khẩu. Từ những năm 1980 trở về sau, các giao dòch trên
thò trường hối đoái ngoài việc phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu còn phục vụ
cho mục đích đầu cơ và mục đích khác.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của ngoại thương và hệ thống ngân hàng,
hoạt động KDNT phát triển ngày càng đa dạng và phong phú. Có thể nói cơ sở để
hình thành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của NHTM là hoạt động ngoại thương.
Nói đến ngoại thương là nói đến thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ và các
dòch vụ đối ngoại của ngân hàng. Bởi vậy, chúng ta thấy các trung tâm giao dòch
ngoại hối tầm cỡ thế giới như London, Newyork, Tokyo, Hongkong, Singapore …
đều hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển thònh vượng của các trung
tâm thương mại sầm uất và đầy đủ các giao dòch buôn bán trong và ngoài nước.
Nói tóm lại, hầu hết các hoạt động buôn bán quốc tế đều kéo theo các giao
dòch ngoại tệ và ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến ngoại tệ đều có tác
động đến ngoại thương. Các giao dòch ngoại tệ quốc tế được thực hiện thông qua
ngân hàng vì thế nghiệp vụ KDNT của ngân hàng chính là chất xúc tác, là điều
kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tài
trợ cho họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hoạt động KDNT theo nghóa rộng bao gồm các hoạt động mua bán ngoại tệ,
đầu tư, đi vay, cho vay, bảo lãnh và các giao dòch khác liên quan đến ngoại tệ.
Theo nghóa hẹp, người ta hiểu khái niệm hoạt động KDNT đơn thuần là việc
mua bán số dư trên tài khoản.
Cùng với sự phát triển của ngoại thương và nhu cầu phòng tránh rủi ro tỷ giá
trong thanh toán quốc tế, nghiệp vụ KDNT cũng không ngừng được hoàn thiện. Từ
nghiệp vụ ban đầu là mua bán giao ngay (Spot), đến nay các nghiệp vụ KDNT đã
phát triển đa dạng, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng như thanh toán, bảo
hiểm rủi ro tỷ giá, đầu cơ.
1.1.2 Chức năng và vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ
12
1.1.2.1 Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động KDNT có các chức năng sau:
- Đảm bảo việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng của ngân hàng
giữa các quốc gia với nhau.
- Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng hay tài trợ của NHNNg.
- Thực hiện nghiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ của khách hàng tại ngân hàng
trong nước.
- Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lêäch tỷ giá giữa các thò
trường ngoại hối khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế trong hoạt
động ngoại thương thông qua đồng nội tệ.
1.1.2.2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động KDNT có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà
còn đối với cả khách hàng bởi các mục đích sau:
− Thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
− Điều chỉnh trạng thái ngoại hối.
− Hạn chế rủi ro trong thanh toán bằng ngoại tệ.
− Kinh doanh kiếm lời.
Ngoài ra, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ KDNT nhằm mục đích đa dạng các
sản phẩm phục vụ khách hàng, thu hút khách hàng thông qua các tiện ích ngân
hàng từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
1.1.3 Các yếu tố chính trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ
1.1.3.1 Thò trường hối đoái
Trong hoạt động ngoại thương giữa các nước, thanh toán là khâu cuối cùng
của giao dòch. Việc thanh toán thường liên quan đến 2 loại tiền, một của bên bán
và một của bên mua với tên gọi và trò giá khác nhau. Các thương gia phải tính toán
để chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền mà bên đối tác yêu cầu thanh
13
toán. Thò trường hối đoái chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các
đồng tiền khác nhau phục vụ cho nhu cầu này của các thương gia.
Như vậy, thò trường hối đoái có thể hiểu là nơi thực hiện các giao dòch mua,
bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ và phương tiện thanh toán có giá trò ngoại tệ
trong đó giá cả mỗi đồng được quyết đònh bởi nhiều yếu tố.
Có sự tồn tại của thò trường hối đoái là do các quốc gia độc lập đều muốn
giữ chủ quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền của mình. Một khi các
quốc gia còn muốn duy trì độc lập về kinh tế của mình thì thò trường hối đoái còn
tồn tại và phát triển.
1.1.3.2 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vò tiền tệ nước này được đo bằng số
lượng đơn vò tiền tệ nước khác. Ví dụ: 1USD = 16,175 VND
1GBP = 1.93 USD
Quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới cho thấy có nhiều chế độ tỷ giá
hối đoái khác nhau. Tuy nhiên được thực hiện chủ yếu là chế độ tỷ giá hối đoái cố
đònh và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi.
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh (Fixed Exchange-rate): Cơ sở của việc so
sánh 2 đồng tiền là dựa vào một thước đo chung theo một công ước chính, bao gồm:
Chế độ bản vò vàng: Tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở của việc so
sánh hàm lượng vàng của các đồng tiền khác nhau.
Chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh theo đồng USD (bản vò USD): Sau cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã làm sụp đổ hoàn toàn chế độ bản vò
vàng, thay vào đó là chế độ tỷ giá hối đoái Bretton Woods, theo đó đồng USD đã
thay thế vàng làm tiêu chuẩn cố đònh cho hệ thống tỷ giá hối đoái mới.
- Chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hay thả nổi (Floating Exchange-rate): Là
chế độ tỷ giá hình thành trên thò trường, được quyết đònh bởi thò trường. Sau khi chế
độ tỷ giá hối đoái Bretton Woods sụp đổ, các nước tư bản không cam kết giữ vững
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét