http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
cầm H5N1 báo cáo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO), từ năm 2003 đến tháng
6/2008, đã có tới 385 trường hợp mắc cúm A/H5N1, trong đó, 243 trường hợp đã tử
vong chiếm tới 63,11%. Việt Nam và Indonesia là các 2 quốc gia có số người nhiễm
và tử vong cao nhất do virus cúm A/H5N1 trên thế giới. Trong số 16 nước có người
chết do cúm gia cầm, Indonesia và Việt Nam được WHO xác định là quốc gia
“điểm nóng” có thể cúm A/H5N1 có được các điều kiện thuận lợi để tiến hóa thích
nghi lây nhiễm và trở thành virus của người [24].
2.1.4. Tình hình dịch bệnh cúm A/H5N1 ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm A/H5N1 bùng phát tại Việt Nam vào cuối tháng 12/2003 ở
các tỉnh phía Bắc, sau đó đã nhanh chóng lan tới hầu hết các tỉnh/thành trong cả
nước chỉ trong một thời gian ngắn. Đây là lần đầu tiên dịch cúm gia cầm A/H5N1
xảy ra tại Việt Nam, có tới hàng chục triệu gia cầm bị tiêu hủy, gây thiệt hại nặng
nền tới nền kinh tế quốc dân. Tính đến cuối năm 2009, dịch cúm gia cầm liên tục tái
bùng phát hàng năm tại nhiều địa phương trong cả nước, có thể phân chia thành các đợt
dịch lớn như sau:
Từ cuối tháng 12 năm 2003 đến hết tháng 01 năm 2004:
Cuối tháng 12 năm 2003 dịch cúm gia cầm xuất hiện tại các tỉnh Hà Tây, Tiền
Giang, Long An và sau đó lây nhanh sang các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Bến Tre,
Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang.
Giữa tháng 1 năm 2004 dịch xảy ra ở Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ như Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai. Tại miền Bắc dịch xuất
hiện ở Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nam, Phú
Thọ tiếp đó là các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên [11].
Từ ngày 01 đến ngày10 tháng 2 năm 2004:
Dịch bùng phát rất nhanh, xảy ra trên quy mô lớn và diễn biến rất phức tạp.
Bình quân mỗi ngày có khoảng 150 - 230 xã, 15 - 20 huyện phát sinh ổ dịch mới
trên phạm vi cả nước. Ngày cao điểm nhất có 267 xã, 20 huyện thị phát sinh ổ dịch
mới. Số gia cầm phải tiêu hủy hàng ngày từ 2 - 3 triệu con, ngày cao điểm nhất là
06/02/2004 phải tiêu hủy đến 4 triệu con [11].
Từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 27 tháng 2 năm 2004:
Tính đến ngày 27 tháng 02 dịch bệnh đã xảy ra ở 2.574 xã, phường (chiếm
24.6 % số xã, phường), 381 huyện, thị (chiếm 60 %) thuộc 57 tỉnh, thành phố [11].
Tình hình dịch trong năm 2005:
Được chia làm nhiều đợt nhỏ:
5
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Đợt dịch thứ nhất: Từ ngày 01/01 - 29/04, dịch xẩy ra ở 670 xã tại 182 huyện
thuộc 35 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu
hủy là 1.847.213 con, trong đó: 470.495 gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim
cút.
Đợt 2: Từ ngày 29/06 - 32/08, dịch xẩy ra ở 14 xã, 12 huyện thuộc 8 tỉnh,
thành phố. Số gia cầm tiêu hủy là 12.164 con trong đó 5.294 gà và 6.870 vịt, ngan.
Đợt 3: Từ ngày 01/10 - 15/12, dịch xẩy ra ở 305 xã, phường của 108 quận,
huyện thuộc 24 tỉnh, thành phố. Số gia cầm tiêu hủy là 3.972.943 con, trong đó
1.338.523 gà, 2.135.116 vịt, ngan và 499.304 chim cút, bồ câu, chim cảnh.
Đợt dịch cuối năm: Dịch xẩy ra chủ yếu trên đàn gia cầm chăn nuôi nhỏ lẻ
chưa được bảo hộ bằng vaccine [11].
Tình hình dịch cuối năm 2006 và đầu 2007:
Đợt 1: Từ ngày 06/12/2006 - 07/03/2007, dịch xẩy ra trên 83 xã, phường của
33 huyện, quận thuộc 11 tỉnh, thành. Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là
103.094 con, trong đó 13.622 gà, 89.472 vịt, ngan. Hai tỉnh nặng nhất là Cà Mau và
Bạc Liêu.
Đợt 2: Từ 01/05 - 23/08/2007, dịch xẩy ra ở 167 xã, phường của 70 huyện,
quận thuộc 23 tỉnh, thành. Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu hủy là 2.294.849
con, trong đó 21.525 gà, 264.549 vịt, 8.775 ngan. Dịch nặng nhất ở Nghệ An, Nam
Định và Điện Biên.
Dịch tái phát lại vào ngày 01/10/2007 tại 15 xã của 9 huyện thuộc 6 tỉnh. Tổng
số gia cầm mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 8.850 con, trong đó 1.024 gà, 7.826 vịt [11].
Từ đầu tháng 5 đến 21/06/2007:
Dịch xẩy ra trên 60 xã của 18 tỉnh trong cả nước bắt đầu từ Nghệ An sau đó
đến Nam Định, Bắc Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam,
Quảng Nam, Hưng Yên, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Cao Bằng [11].
Từ cuối năm 2007 đến đầu 2008:
Dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 17 tỉnh, thành trong cả nước gồm Hà Nội,
Hà Nam, Hải Dương, Lào Cai, Long An, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng
Bình, Quảng Nam, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Thái Nguyên, Trà Vinh,
Tuyên Quang, Vĩnh Long [11].
Tình hình dịch năm 2008:
6
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Năm 2008 dịch cúm gia cầm đã xuất hiện tại 80 xã thuộc 54 huyện, quận, thị
xã của 27 tỉnh, thành phố. Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.580
con (gồm gà, ngan, vịt) [28].
Tình hình dịch năm 2009:
Năm 2009, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở 68 xã, phường, thị trấn của 34
huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy
trên 127.000 con [25].
2.1.5. Những kết quả nghiên cứu đã đạt được về bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam [5]
2.1.5.1. Sự lưu hành virus cúm gia cầm ở Việt Nam
Virus cúm gia cầm H5N1 gây bệnh cho gia cầm ở Việt Nam có nguồn gốc từ
Trung Quốc thuộc gennotyp Z.
Trong các năm tiếp theo của ổ dịch, virus vẫn tiếp tục xâm nhập từ Trung
Quốc vào Việt Nam, có thể thông qua đường nhập lậu gia cầm. Loại virus xâm nhập
về sau này, ngoài gennotyp Z có cả gennotyp G (loại virus chuyên lưu hành ở
Quảng Tây và Hồ Nam (Trung Quốc)).
Virus lưu hành ở Việt Nam luôn biến đổi cấu trúc di truyền. Chỉ riêng đoạn
gen tại vị trí tách (cleavage site) đã có 5 cấu trúc khác nhau. Các loại virus lưu hành
ở Việt Nam bao gồm H
3
, H
4
, H
5
, H
6
, H
9
, H
11
và H
12
.
Sự biến đổi di truyền của virus cúm H5N1 tại Việt Nam đã xảy ra tại vị trí thụ
thể của virus với tế bào.
Virus H5N1 gây bệnh cho gia cầm năm 2003 vẫn tiếp tục tồn tại ở Việt Nam.
Các loại virus lưu hành ở phía Nam đã phát triển thành một nhóm riêng (nhóm S),
và khác với nhóm virus (nhóm N) lưu hành ở phía Bắc.
Virus cúm H5N1 có tính kháng nguyên rất đa dạng từ khi xuất hiện tại Việt
Nam và đã xuất hiện một số chủng có tính kháng nguyên hoàn toàn khác và được
phân vào nhóm kháng nguyên HA Clade 2 hoặc Genotyp G.
Mặc dù lợn là động vật mẫn cảm với virus cúm và có thể là nơi gây ra sự tổ
hợp của virus cúm H5N1 với virus cúm người để tạo ra một chủng virus mới gây
đại dịch. Nhưng nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ lợn nhiễm virus H5N1 là rất thấp. Nói
cách khác khả năng nhiễm và phát bệnh ở lợn do H5N1 là không đáng kể. Hơn nữa
lợn được gây bệnh thực nghiệm không phát bệnh lâm sàng và không làm lây lan
virus sang lợn tiếp xúc.
Virus H5N1 có thể tồn tại lâu hơn trong môi trường so với các loại virus cúm
khác. Điều quan trọng là trong điều kiện môi trường bình thường (nước sông suối, ở
7
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
nhiệt độ 20 - 30
0
C) virus chỉ bị mất hoạt lực sau 90 giờ, trong môi trường có chất
hữu cơ virus có thể tồn tại lâu hơn. Đối với virus trong cơ thể gia cầm bệnh được
chôn dưới đất chúng chỉ giữ được tính gây nhiễm không quá 5 ngày.
Để làm nâng cao tính nhạy cảm của phương pháp chẩn đoán nên chẩn đoán
virus cúm bằng phương pháp RT-PCR, trong đó xác định virus type A trước (thông
qua xác định gen M) sau đó mới xét nghiệm các đặc tính subtype khác.
Đã phát hiện cầy hương tại rừng Cúc Phương bị chết do virus H
5
N
1
. Điều này
cho thấy cần phải có các biện pháp an toàn sinh học cho các vườn quốc gia và nhất
là các sở thú.
Đã chế tạo thành công kháng nguyên HA H5N1 dùng trong giám sát huyết
thanh cúm gia cầm. Mặt khác cũng đã chế tạo thành công kháng huyết thanh kháng
H5N1 dùng trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh.
Đã khảo sát chất sát trùng Alpha Terpineol từ tinh dầu tràm có khả năng sát
khuẩn và làm giảm sự nhân lên của virus H5N1 trên môi trường tế bào.
2.1.5.2. Kết quả nghiên cứu phát triển vaccine phòng bệnh cúm gia cầm tại Việt Nam
Đã nghiên cứu thành công:
- Quy trình sản xuất vaccine cúm A/H5N1.
- Quy trình bảo quản và sử dụng vaccine cúm A/H5N1.
- Quy trình tiếp truyền giống gốc và sản xuất giống cấp một.
2.2. Đặc điểm virus học của virus cúm A phân type H5N1 gây bệnh ở gia cầm
2.2.1. Phân loại
Virus nói riêng cũng như virus cúm nói chung thường được phân loại chủ
yếu theo tính kháng nguyên. Khi dùng phản ứng kết tủa trên thạch hoặc kết hợp bổ
thể người ta thấy có 3 nhóm virus khác nhau và đặt tên cho 3 nhóm là virus A, B, và
C. Dùng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu người ta thấy virus type A lại có
nhiều loại khác nhau. Trên cơ sở kết quả của phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu,
khi phát hiện ra rằng kháng thể kháng ngưng kết hồng cầu là kháng thể được tạo ra
để chống lại protein HA nhưng không ức chế toàn bộ các virus type A. Từ đó virus
type A được chia ra các type phụ (subtype) trên cơ sở có phản ứng HI đặc hiệu. Cho
đến năm 2004 tổng số subtype chia theo khả năng ngưng kết hồng cầu là 16. Cũng
như vậy với protein NA, người ta phát hiện ra 9 loại NA có tính kháng nguyên khác
nhau và được đặt tên là từ N1 cho đến N9. Virus cúm type A là kết quả sự tổ hợp
giữa 2 loại protein này. Chính vì vậy chúng ta có virus cúm đặt tên là HxNy. Việc
phân loại virus như trên do ủy ban định danh quốc tế tiến hành [6].
8
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Các loại virus cúm rất đa dạng, có thể chúng có cùng danh hiệu nhưng không
chắc có cùng nguồn gốc và về gen di truyền chúng có sự khác nhau. Với virus H5N1
đang gây bệnh đại dịch cho gia cầm, có nguồn gốc từ Châu Á được gọi tên đầy đủ là
"virus H5N1 dòng Châu Á" nhằm phân biệt với các loại H5N1 khác. Virus H5N1 lại
được phân loại chi tiết hơn nữa. Có 2 kiểu phân loại virus cúm dòng Châu Á (theo
quy định của WHO) đó là:
Phân loại theo kiểu gen: Virus cúm dòng Châu Á phải có 2 đoạn RNA chịu
trách nhiệm tổng hợp protein HA và NA có nguồn gốc từ virus cúm H5N1 phân lập
từ ngỗng ở Quảng Đông (Trung Quốc) vào năm 1996. Tùy theo nguồn gốc của 6
đoạn gen còn lại mà người ta đặt tên cho kiểu gen của virus đó. Tại Việt Nam cho
đến nay chúng ta đã phát hiện có 3 kiểu gen, đó là Z, G, và V.
Phân loại theo nhóm kháng nguyên: Do sự biến đổi di truyền liên tục nên
protein HA của virus cúm H5N1 dòng Châu Á có tính kháng nguyên thay đổi. Bằng
phản ứng HI xác định hiệu giá kháng thể của các loại virus cúm H5N1 dòng Châu Á
thì các virus cúm có hiệu giá kháng thể chênh lệch nhau không quá 1log được phân
vào cùng một nhóm kháng nguyên. Khi hiệu giá HI lệch 2log trở lên thì virus sẽ
thuộc nhóm kháng nguyên khác. Hiện nay đã có đến 9 nhóm kháng nguyên khác
nhau [6].
2.2.2. Tên gọi của virus cúm A/H5N1
Tên của virus cúm được đặt theo quy ước quốc tế bắt đầu bằng type virus, và
subtype (nghĩa là theo tên gọi của protein HA và NA). Như vậy chúng ta viết: virus
type A H5N1. Tên của từng chủng virus được viết bắt đầu từ tên type, tên loài động
vật mà từ đó virus được phân lập, tên địa phương nơi phân lập được (tên nước, tên
tỉnh, hoặc tên bang), sau đó ký hiệu riêng của phòng thí nghiệm nơi phân lập được,
năm phân lập và để trong ngoặc tên chung của virus. Ví dụ:
A/DK/VNM/450/06[H5N1]. Riêng với virus cúm phân lập từ người thì không cần
để tên động vật nữa, ví dụ A/Việt Nam/1303/03[H5N1] [6].
2.2.3. Cấu trúc của virus cúm A/H5N1
2.2.1.1. Cấu trúc chung [6].
Vius cúm gà có tên khoa học là Avian Influenza virus, thuộc họ
Orthomyxoviridae, là họ virus đa hình thái, có vỏ ngoài, genome là RNA đơn.
Hạt virus có dạng hình khối tròn hình trứng hoặc dạng khối kéo dài, đường
kính khoảng 80 - 120nm, nhiều khi virus có dạng hình sợi dài đến vài µm. Phân tử
lượng của hạt virus khoảng 4,6 - 6,4 Dalton.
9
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Vỏ ngoài của virus là một màng lipid. Trên màng này có hai loại protein là
Hemagglutinin (HA) và Neuraminidase (NA). Bên trong virus có hai thành phần
gồm axit nhân loại RNA và protein. RNA của virus cúm là sợi đơn gồm 7 hoặc 8
đoạn riêng biệt, các sợi RNA này được bao bọc bởi các protein chủ yếu là NP
(Nucleoprotein) và protein M (Mactrix) tạo ra Nucleocapsid. Các protein của virus
bao gồm và có chức năng sau:
HA: Là một trimer có bản chất glycoprotein type1 có chức năng bám dính vào
thụ thể tế bào.
NA: Là một tetramer có nhiệm vụ cắt axit sialic, giúp HA gắn vào thụ thể và
giúp giải phóng RNA từ endosom (thể nội bào) và tạo hạt virus mới.
M2: Là tetramer có chức năng tạo khe H
+
nhằm giúp cởi vỏ virus.
M1: Tập hợp các thành phần của virus và gây ra hiện tượng nảy chồi để giải
phóng virus mới hình thành.
PB1, PB2, NP và PA: Có nhiệm vụ bảo vệ, sao chép và phiên dịch RNA.
NS2 kết hợp với M1 có nhiệm vụ chuyển RNA từ trong nhân tế bào ra ngoài
nguyên sinh chất.
NS2 là protein không cấu trúc (không là đơn vị tạo thành hạt virus) được tổng
hợp trong quá trình nhân lên của virus và có nhiệm vụ cắt xén RNA và kích thích sự
phiên mã trong quá trình nhân lên của virus.
2.2.1.2. Cấu trúc gennom [24].
Hệ gen của virus cúm chứa duy nhất Axit ribonucleic (RNA) một sợi, có cấu
trúc là sợi âm, ký hiệu là SS (-) RNA (Negative single stranded RNA). Sợi âm RNA
có độ dài 10.000 - 15.000 nucleotit, không được nối với nhau tạo thành một sợi
RNA hoàn chỉnh mà phân chia thành 7 - 8 phân đoạn có cấu trúc riêng biệt, mà mỗi
một phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm cho mỗi một loại protein của virus.
Phân đoạn 1 - 3 mã hóa cho protein PB1, PB2 và PA là các loại protein có
chức năng là Enzyme polymeraza, trong đó PB1 có phân tử lượng tính toán là 87 x
10
3
Da, PB2 có phân tử lượng tính toán là 84 x 10
3
Da và PA có phân tử lượng tính
toán là 83 x 10
3
Da.
Phân đoạn 4 mã hóa cho protein hemagglutinin (HA) với phân tử lượng là 63 x
10
3
Da (không được glycosyl hóa), 72 x 10
3
Da nếu được glycosyl hóa.
Phân đoạn 5 mã hóa cho protein nucleoprotein (NP) với phân tử lượng tính
toán là 56 x 10
3
Da.
10
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Phân đoạn 6 là gen chịu trách nhiệm tổng hợp protein enzyme neuraminidase
(NA) với phân tử lượng tính toán là 50 x 10
3
Da.
Phân đoạn 7 mã hóa cho hai tiểu phần protein đệm (matrix protein M1 và
M2), trong đó phân tử lượng tính toán của M1 là 28 x 10
3
Da và của M2 là 11 x 10
3
Da.
Phân đoạn 8 có độ dài tương đối ổn định 890 (nucleotit) trong các biến chủng
cúm A, mã hóa cho 2 tiểu phần protein không cấu trúc NS1 và NS2 (Nonstructural
protein, NS), trong đó phân tử lượng tính toán của NS1 là 27 x 10
3
Da và của NS2 là
14 x 10
3
Da.
Hình 1. Các dạng hình thái khác nhau dưới kính hiển vi điện tử (A), mô hình
cấu tạo hạt virus (B), cấu trúc của phức hợp ribonucleoprotein RNP (C) của virus
cúm A.
2.2.4. Sự biến đổi gen di truyền của virus cúm A/H5N1
Virus cúm liên tục biến đổi về gen di truyền tạo ra virus mới. Cơ chế của sự
biến đổi đó là:
Thay đổi do đột biến điểm: Việc phân chia virus H5N1 dòng Châu Á theo
nhóm kháng nguyên như nói ở trên chính là kết quả của đột biến điểm của đoạn gen
HA. Khi virus nhân lên trong tế bào ký chủ sẽ có sự sai lệch trong sao chép dẫn đến
thay đổi một hoặc nhiều nucleotid, dẫn đến thay đổi cấu trúc của mã di truyền và
protein HA. Sự thay đổi này làm tính kháng nguyên thay đổi theo. Việc thay đổi
không chỉ xảy ra ở gen HA mà còn ở các gen khác. Do vậy hàng năm nhóm chuyên
gia về cúm của WHO thường phải xem xét và chọn ra loại virus mới để sản xuất
vaccine thay thế cho chủng virus năm trước [6].
Thay đổi do tổ hợp: Khi 2 virus cúm type A cùng nhiễm vào trong một tế bào,
chúng đều tổng hợp ra hàng ngàn phân tử protein và đoạn RNA của chính mình. Để
hình thành một hạt virus cần tổ hợp 8 đoạn RNA và các loại protein. Lúc này không
11
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
phải đoạn RNA của virus nào thì theo nhau làm thành một hạt virus giống với virus
thế hệ trước, mà chúng tự sắp xếp miễn sao có đủ 8 đoạn RNA bất kể của virus nào.
Kết quả là virus khi hình thành có thể có tất cả 8 đoạn RNA đều là của một trong hai
loại virus bố mẹ hoặc có một số đoạn RNA của virus này và số còn lại của virus kia.
Do sự biến đổi liên tục nên virus cúm luôn luôn được coi là mới. Về mặt kháng
nguyên, sự thay đổi này làm cho con người dù đã được tiêm phòng nhưng vẫn có
thể mắc bệnh cúm nhưng ở dạng nhẹ. Sự thay dổi do đột biến điểm là một quá trình
thay đổi từ từ nhưng thường xuyên của tính kháng nguyên nên đòi hỏi hàng năm
người ta phải chọn chủng virus thích hợp để làm vaccine. Trong khi đó, sự thay đổi
do tổ hợp, ví dụ chúng ta đang mắc bệnh cúm do H3N2 gây ra nay nếu xuất hiện
H5N3 chẳng hạn thì con người chưa tiếp xúc với H5 bao giờ nên khi mắc bệnh bệnh
sẽ rất nặng và có khả năng sinh ra đại dịch ở người. Tuy nhiên không nhất thiết phải
có quá trình tổ hợp mới sinh ra đại dịch. Virus cúm dòng Châu Á đang lưu hành
hiện nay chẳng hạn có thể chỉ cần một vài đột biến điểm sao cho nó có thể lây lan dễ
dàng giữa người với người là có khả năng sinh ra đại dịch [6].
2.2.5. Các type, phân type và các chủng của virus cúm A/H5N1
Virus cúm gồm có 3 type và chúng được phân biệt khác nhau dựa vào những
điểm khác biệt về kháng nguyên ở nhân và lớp protein matrix. Một điểm khác biệt
quan trọng giữa các type virus cúm là khả năng nhiễm và gây nhiễm ở các loài vật
khác nhau. Ví dụ virus cúm type A đã được phát hiện và xác định là gây bệnh ở các
loài động vật có vú và các loài chim, bao gồm: người, lợn, ngựa, chồn, các loài động
vật có vú ở biển và một loạt các loài gia cầm và chim hoang dã. Trong đó virus cúm
type B và C phần lớn được xác định là gây bệnh ở người và rất hiếm khi có thể xác
định có mặt ở các loài động vật khác như hải âu và lợn [4].
Ngoài ra khi so sánh với các type virus cúm B, C, virus cúm type A được coi
là đã xác định rõ đặc tính cũng như khả năng gây bệnh ở người và động vật vì
chúng gây ra các đại dịch không thể lường trước với tỉ lệ chết cao.
Về lý thuyết có thể suy luận ra rằng có thể hình thành hàng nghìn chủng virus
cúm có chứa cả HA và NA khác nhau và mỗi chủng virus này đều có những đặc
điểm riêng và có khả năng gây bệnh khác nhau. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại
mới chỉ phát hiện được một lượng rất nhỏ các chủng virus cúm type A ở người trên
toàn thế giới bao gồm: H1N1, H1N2, H3N2, và gần đây là chủng H5N1. Mặc dù
vậy người có thể bị nhiễm bởi cả 3 type virus cúm A, B, C [4].
12
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Mặt khác dựa vào khả năng gây bệnh ở động vật, cũng như đặc tính di truyền
phân tử đặc hiệu, người ta phân loại các chủng virus cúm gia cầm thuộc type A
thành 2 nhóm chính: đó là chủng virus độc lực cao (H5, H7, và gần đây là H9) có
thể gây nhiễm với tỷ lệ chết lên đến 100% số gia cầm và các chủng virus cúm gia
cầm độc lực thấp, thường gây bệnh nhẹ ở các loài gia cầm. Tuy nhiên các chủng
virus cúm gia cầm độc lực thấp được xem là có tiềm năng rất cao để tiến hóa thành
các chủng có độc lực cao. Trong số các chủng virus độc lực cao các chủng H5, H7
bao gồm: H5N1, H7N7, H7N3 đã được xác định là các chủng virus cúm có độc lực cao
và con người cũng có thể bị nhiễm các chủng virus này với các biểu hiện bệnh lý khác
nhau nhẹ (H7N3, H7N7) cho tới nặng và thậm chí bị chết (H7N7, H5N1) [4].
2.2.6. Sự nhân lên của virus cúm A/H5N1 trong tế bào ký chủ
Quá trình nhân lên của virus cúm chia ra nhiều giai đoạn, gồm có giai đoạn
bám dính, xâm nhập, tổng hợp protein và RNA (pha sớm và pha muộn), lắp ráp và
giải phóng virus (hình 2). Sự bám dính của virus cúm vào tế bào ký chủ bắt đầu
bằng sự bám dính không đặc hiệu do các loại đường có trên protein HA quyết định.
Tại đây vai trò của mối liên kết α 2 - 3 hay α 2 - 6 quyết định mức độ bám dính. Sau
đó các men proteaza có trong ký chủ sẽ cắt đôi protein HA tại điểm cắt và giúp cho
protein này bám vào thụ thể của tế bào ký chủ. Sau khi có mối liên kết HA - thụ thể
thì men neuraminidase (NA) của virus sẽ cắt các axit sialic của tế bào (taminflu có
tác dụng ức chế NA tức là ức chế quá trình này). Khi virus bám vào thụ thể, tạo ra
thông tin cho quá trình ẩm bào bắt đầu. Mảng tế bào tại nơi có virus bám vào sẽ lõm
vào trong tạo thành một túi nhỏ, miệng túi khép lại và virus được nằm trong một quả
cầu nhỏ gọi là endosome. Màng của endosome như vậy chính là màng tế bào được
lộn ngược vào trong. Người ta gọi quá trình này là quá trình ẩm bào. Trong nguyên
sinh chất màng endosome này sẽ sát nhập với màng của lysosome. Môi trường bên
trong lysosome sẽ toan hóa giúp cho màng lipid của virus sát nhập với màng của
lysosome. Mặt khác, protein M2 của virus sẽ bơm H
+
vào bên trong virus làm
cho phần bên trong của virus sẽ toan hóa. Nếu ta coi virus như một cái túi thì
miệng túi sẽ gắn với màng lysosome, sau đó chiếc túi này được mở ra và lộn
ngược ra giải phóng nucleocapsid của virus vào trong nguyên sinh chất [6].
13
http://svnonglam.org - http://facebook.com/windsvnl
Hình 2: Cơ chế xâm nhiễm và nhân lên của virus cúm A trong tế bào chủ.
2.2.7. Đặc tính nuôi cấy virus cúm A/H5N1
Phần lớn các chủng virus có thể phát triển ổn định ở trứng gà có phôi hoặc ở
các loại tế bào mầm. Đây chính là đặc điểm quan trọng để nhân giống virus trong
phòng thí nghiệm để nghiên cứu, bảo tồn cũng như để sản xuất vaccine. Đối với các
chủng virus cúm cũng có những đặc tính như vậy. Tuy nhiên, virus cúm type A chỉ phát
triển ở trong môi trường tế bào không có huyết thanh chứa trypsin. Một số hệ thống tế
bào kể cả dòng tế bào MDCK cần được nuôi cấy ở trong môi trường không có huyết
thanh có chứa trypsin để tách các protein HA của virus giúp cho việc hình thành các
khuẩn lạc. Một số loại môi trường tế bào như tế bào gan HepG2 của người, tế bào thận
phôi lợn (ESK) và tế bào thận gà (CK) cũng đã được chứng minh là có nhiều hứa hẹn
và nhạy cảm hơn đối với virus cúm gia cầm [19].
2.2.8. Độc lực và sức kháng của virus
2.2.8.1. Độc lực của virus
Để đánh giá độc lực của virus cúm người ta sử dụng phương pháp gây bệnh
cho gà 3 - 6 tuần tuổi bằng cách tiêm tĩnh mạch 0,2ml nước trứng đã được gây
nhiễm virus với tỉ lệ pha loãng 1/10, sau đó đánh giá mức độ bệnh của gà để cho
điểm (chỉ số IVPI), điểm tối đa là 3 và đó là virus có độc lực cao nhất. Theo quy
định của ủy ban Châu Âu [30] thì những virus có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên là thuộc
nhóm virus có độc lực cao. Căn cứ vào chỉ số IVPI các nhà khoa học đã thống nhất
chia virus cúm làm 3 loại:
- Loại virus có độc lực cao: Nếu sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà mà làm
chết 75 - 100% gà thực nghiệm, virus gây cúm gà phải làm chết 20% số gà mẫn cảm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét