Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

biện pháp xử lý nợ quá hạn ở Sở giao dịch Ngân hàng Nông Nghiệp


5
chặt chẽ của pháp luật. Hệ thống các ngân hàng thương mại và các trung gian tài
chính khác tập trung vào nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và chị sự quản lý của
ngân hàng Trung ương.
- Đối với Việt Nam:
Ngân hàng đầu tiên thành lập ở Việt Nam là ngân hàng Đơng Dương,
thành lập theo sắc lệnh ngày 25/01/1875 của Tổng thống Pháp. Ngân hàng này
vừa giữ chức năng phát hành vừa giữ chức năng: nhận gửi, cho vay, thanh tốn.
Ngân hàng Đơng Dương vừa là cơng cụ phục vụ đắc lực chính sách thuộc địa
của Chính phủ Pháp ở các nứơc Đơng Dương, vừa là cơng cụ bóc lột thậm tệ
nhân dân Đơng Dương và làm giàu cho tư bản Pháp.
Đến ngày 6/5/1951, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hồ ra sắc
lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam với những nhiệm vụ
chính : Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thơng tiền tệ; Quản lý
kho bạc nhà nước; Huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thơnghàng
hố; Quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp hành chính; Quản lý ngoại hối
và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền tệ với địch.
Sau năm 1975, nước ta phải đối đầu với hàng loạt các thách thức lớn.
Ngân hàng nhà nước phải in tiền để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu cho các doanh
nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp. Lượng tiền cung ứng gia tăng trong
điều kiện sản lượng khơng tăng kịp đã đẩy lạm phát lên cao trong những năm
80. Tình trạng độc quyền trong hệ thống ngân hàng đã góp phần duy trì tình
trạng trì trệ trong các ngân hàng, làm giảm vai trò là trung gian tài cính hoạt
động vì mục tiêu hiệu quả kinh tế.
Đến thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hốtập trung sang kinh tế
thị trường có sự quản lya của Nhà nước, hệ thống ngân háng Việt Nam đã có
những đổi mới đáng kể. Mơ hình tổ chức của cá sự thay đổi căn bản đố là tách
biệt chức năng quản lýhoạt động tièn tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiìen
tệ, đa dạng hố các loại hình ngân hàng, từng bước xố bỏ độc quyền, chuyển
sang cạnh tranh có sự quản lý của nhà nước. Kể từ đầu những năm 90, hệ thơng
ngann hàng thương mại đã khơng ngừng phát triển về các loại hình và nghiệp vụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại. Hệ thống ngân hàng thương
mại gồm có: 04 ngân hàng thương mại nhà nước (ngân hàng ngoại thương,
Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng nơng nghiệp và ngân hàng cơng
thương), 48 ngân hàng thương mại cổ phàn, 05 ngân hang liên doanh và 29 chi
nhánh ngân hàng nước ngồi. Ngồi ra còn có 917 quỹ tín dụng nhân dân.
Như vậy, hệ thống ngân hàng phát triển theo chiều hướng ngày càng phù
hợp hơn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội.
2. Khái niệm và phân loại
2.1.Khái niệm
Có rất nhiều khái niệm khá nhau về ngân hàng thương mại. Tuỳ từng
nước và từng thời điểm mà có các khái niệm về ngân hàng thương mại.
ở một số nước:
*ở Mỹ:
- Luật ngân hàng (những năm 80): Bất kỳ tổ chức nào cung cấp dịch vụ
nhận tiền gửi có giữ séc và cho vay đều được gọi là ngân hàng.
- Luật ngân hàng (những năm 90): Ngân hàng là một tổ chức tài chính
cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng ngất, đặc biệt là nhận tiền gửi,
tín dụng và thanh tốn.
Có một số quan điểm khác cho rằng: Ngân hàng thương mại là một cơng
ty kinh doanh chun cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch
vụ tài chính.
*ở Pháp:
Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xun
nhận của cơng chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tièn mà
họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
*ở ấn Độ:
Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác đẻ cho vay hay tài
trợ và đầu tư.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
*ở Thổ Nhĩ Kỳ:
Ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạnthiết lập nhằm mục
đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hốiđối, nghiệp vụ cơng hối
phiếu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác.
b)ở Việt Nam:
Sắc lệnh 018 CT/LDGCQL/SL ngày 20/10/1969 của chính quyền Sài Gòn
cũ định nghĩa: Ngân hàng thương mại là mọi xí nghiệp cơng hay tư lập kể cả chi
nhánh hay phân cục ngân hàng ngân hàng ngoại quốc mà hoạt động thường
xun là thi hành cho chính mình nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, tài chính với
tiền ký thác nhậ của tư nhân, của xí nghiệp hay cơ quan cơng quyền.
Pháp lệnh ngâng hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng nhà nước Việt Nam
xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh dónh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thường xun là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hồn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương
tiện thanh tốn.
Điều 20, Luật ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là một loại
hình tổ chức tín dụng được thực hiện tồn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động khác có liên quan đặc biệt là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh tốn.
Mặc dù các khái niệm về ngân hàng thương mại là khác nhau, nhưng nhìn
chung ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ với ba nghiệp vụ chính là nhậ gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh
tốn.
2.2.Phân loại
Ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
*Căn cứ theo hình thức sở hữu:
Ngân hàng thương mại nhà nước.
Ngân hàng thương mại cổ phần.
Ngân hàng thương mại liên doanh.
*Căn cứ theo tính chất hoạt động:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
Ngân hàng chun doanh.
Ngân hàng đa năng.
*Căn cứ theo thị trường:
Ngân hàng bán bn.
Ngân hàng bán lẻ.
*Căn cứ theo hình thức tổ chức:
Ngân hàng phụ thuộc.
Ngân hàng độc lập.
3. Chức năng của ngân hàng thương mại
- Trung gian tài chính:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế:
Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư vượt q thu nhập. Họ là những người cần bổ sung vốn.
Các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hố, dịch vụ và do vậy họ có tiền để
tiết kiệm.
So với tín dụng trực tiếp thì ngân hàng với chức năng trung gian tài chính
đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm,
đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu
tư), từ đó mà khuyến khích đầu tư.
- Tạo phương tiện thanh tốn:
Do ngân hàng có thể phát hành séc hoặc cho vay bằng bút tệ nên ngân
hàng có khả năng tạo phương tiện thanh tốn.
Trong điều kiện phát triển thanh tốn qua ngân hàng, các khách hàng nhận
thấy nấu họ có được ssó dư trên tài khoản tiền gửi thanh tốn, họ có thể chi trả
để có được hàng hố và các dịch vụ theo u cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh tốn của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể
dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh tốn.
- Trung gian thanh tốn:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh tốn lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh tốn giá trị hàng hố
và dịch vụ. Để việc thanh tốn nhanh chóng, thuận tiện cà tiết kiệm chi phí,
ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh tốn như : thanh tốn
bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh tốn
điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân
hàng còn thực hiện thnah tốn bù trừ với nhau thơng qua Ngân hàng Trung ương
hoặc các trung tâm thanh tốn. Các trung tâm thanh tốn quốc tế cũng được thiết
lập đã làm tăng hiệu quả thanh tốn qua ngân hangf.
4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
- Huy động vốn:
Do đặc điểm của ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt
hoath động kinh doanh bằng tiền của người khác, nên hoạt động huy động vốn
được coi là một trong những hoạt động đầu vào chủ yếu cho việc kinh doanh của
ngân hàng thương mại.
Huy động vốn đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới hoạt động của ngân
hàng, do đó các ngân hàng tìm mọi cách để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong
dân cư và các tổ chức kinh tế. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài ngu n
quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
nguồn tiền cuả ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong mơi trường cạnh tranh và
đẻ có nguồn tiền cá chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực
hiệnnhiều hình thức huy động khác nhau: nhận tiền gửi khơng kỳ hạn, có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác nhau. Đồng thời phát hành những giấy tờ có giá cũng
góp phần khơng nhỏ vào hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.
- Hoạt động tín dụng:
Là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó các ngân hàng thương mại
khơng chỉ huy động vốn mà còn phải sử dụng vốn huy động được để cho vay và
đầu tư vào các tài sản có sinh lời.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng được đa dạng hố
từ hình thức đầu tư đến loaị hình cơng việc với thời hạn và điều kiện khác nhau
nhằm thu lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân
hàng với mục đích cuối cùng là an tồn và sih lời.
- Dịch vụ thanh tốn và ngân quỹ:
Để giảm chi phí lưu thơng và tăng mức độ an tồn thuận tiện cho các
doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh ngân hàng thực hiện chức năng làm
trung gian thanh tốn cho các doanh nghiệp. Dịch vụ thanh tốn của các ngân
hàng gồm: dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh tốn, dịch vụ thanh tốn
trong nước và quốc tế, dịch vụ thu chi hộ, chuyển tiền nhanh và thừc hiện các
thanh tốn khác do ngân hàng Nhà nước quy định.
Hoạt động này ngồi việc đem lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác
dụng thu hút khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách
hàng cho các hoạt động chính.
Trong các hoạt động cơ bản trên thì thu nhập từ hoạt động tín dụng của
các ngân hàng thương mại Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của
các ngân hàng, trong đó khoản cho vay đống vai trò quan trọng nhất quyết định
hiệu quả trong hoạt động ngân hàng. Nhưng hoạt động tín dụng cũng là hoạt
động có độ rủi ro lớ nhất trong hoạt động ngân hàng, do vậy vấn đề đặt ra là
ngân hàng phải quản lý tất các khoản cho vay, tránh tình trạng mất cân đối dẫn
tới sự sụp đổ của ngân hàng. Như vậy, chất lượng hoạt động tín dụng quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại hiện nay.
II. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1. Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng
- Khái niệm
Tín dụng xuất phát từ chữ La Tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm.
Theo ngơn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn .
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụngmột lượng giá trị,
dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
hồn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổ
chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân.
Trong mối quan hệ này, tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân
hàng vừa là người cho vay, vừa là người đi vay.
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiện
mặt và bút tệ trong đó bút tệ là chủ yếu. Tín dụng ngân hàng là tín dụng thương
mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Vì đối tượng vay mượn
chủ yếu là tiền tệ, do đó tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng rất linh hoạt
và có nhiều ưu thế nổi bật.
- Phân loại
Có nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng khác nhau tuỳ theo u cầu
của khách hàng và mục tiêu quản lý của khách hàng:
+ Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường
được dùng để cho vay bbổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh
nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm dùng để cho
vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây
dựng các cơng trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng
để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mơ lớn.
+ Căn cứ vào hình thức:
Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tưong ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng
để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hồn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàngcủa mình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Cho th: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng theo
những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc
lẫn lãi cho ngân hàng.
+ Căn cứ vào tài sản đảm bảo:
Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà người nhận tín dụng
cam kết về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng
trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng.
Tín dụng khơng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng được cấp cho các
khách hàng có uy tín, thường là khách hànglàm ăn thường xun có lãi, tình
hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay
tương đối nhỏ so với vốn của người vay.
+ Căn cứ vào rủi ro:
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu khơng lành mạnh
như: khách hàng chậm tiêu thụ, tiíen độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hỗn nộp báo cáo tài chính…
Nợ q hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã q hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
Nợ q hạn khó đòi: Nợ q hạn q lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Vai trò tín dụng ngân hàng đối với ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh cơ bản nhất của ngân hàng thương mại là hoạt
động tín dụng. Đây là hoạt động thường xun nhất, mang lại lợi nhuận lớ nhất
cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng ln chiếm tỷ lệ lớn trong tổng
thu nghiệp vụ của ngân hàng. Nhưng, đây cũng là hoạt động có độ rủi ro cao. Vì
vậy, việc hạn chế rủi ro tín dụng hay nâng cao chất lượng tín dụng đóng vai trò
hêtswcs quan trọng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của một ngâ hàng.
Thơng qua hoạt động tín dụng, ngân hàng có thể điều hồ vốn vì ngân
hàng khơng thể chỉ nhận tiền gửi mà khơng cho vay hay đầu tư. Cũng thơng qua
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
hoạt động tín dụng, ngân hàng hạn chế rủi ro về vốn, rủi ro thanh khoản…Hoạt
động tín dụng giúp ngân hàng mở rộng và củng cố mối quan hệ với khách hàng
lâu năm, tìm kiếm thêm khách hàng mới, mở rộng thêm các loại hình kinh
doanh, dịch vu khác như: bảo lãnh, thanh tốn , chuyển tiền, giữ hộ…
Trình độ quản lý, năng lực về nghiệp vụ của cán bộ nhân viên ngân hàng
cũng được nâng lên thơng qua hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng còn góp
phần nâng cao vị thế, uy tín, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Chính vì tín dụng có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, cho nên các
ngân hàng khơng ngừng mở rộng và hồn thiện nghiệp vụ tín dụng đảm bảo an
tồn và lợi ích của ngân hàng.
- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người đi vay:
Trong nền kinh tế thị trường, vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp hầu
như đều nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn trong hoạt động của doanh nghiệp. Có
nhiều kênh cung cấp vốn, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn
chủ yếu cho những người thiếu vốn, nhất là ở những nước mà thị trường tài
chính chưa phát triển mạnh như ở Việt Nam. Nguồn vốn đi vay ngân hàng vẫn
chiếm tỷ trọng lớn và quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng đã trở thành một kênh cung cấp vốn tin cậy cho các nhu cầu
của những người thiéu vốn mà khơng tốn nhiều cơng sức, chi phí, thời gian cho
việc tìm kiếm như khi tự bản thân đi tìm.
Nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn vốn mà khách hàng tiếp cận ở mọi
nơi, mọi lúc với các điều kiện và phương thức thanh tốn phong phú đa dạng,
giúp cho họ tranh thủ được các cơ hội sản xuất kinh doanh. Vốn vay ngân hàng
là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất, có thể đáp ứng
nhu cầu vốn lớn và có thời hạn dài cho các khách hàng. Các khoản vay ngân
hàng trở thành “chất bơi trơn” cho các hoạt động của khách hàng và làm cho
hoạt động của khách hàng có hiệu quả hơn, vì họ khơng những trả gốc và lãi cho
ngân hàng, mà còn chịu sự kiểm tra giám sát và nhậ được sự tư vấn của ngân
hàng trong q trình sử dụng vốn vay cũng như trong các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
- Vai trò của tín dụng ngân hàn đối với nền kinh tế:
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế. Tín dụng ngân hàng điều hồ vốn từ nơi chưa có nhu cầu sử dụng sang
nơi có nhu cầu sử dụng cho qúa trình sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngân hàng
thúc đẩy sản xuất và lưu thơng phát triển, góp phần đẩy nhanh q trình tái sản
xuất mở rộng. Ngồi ra tín dụng ngân hàng còn là cơng cụ điều hồ lưu thơng
tiền tệ, và thơng qua đó điều tiết vĩ mơ nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng có liên quan chặ chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền
kinh tế. Các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về
vốn của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy quan trọng đẻ doanh nghiệp
tổ chức sử dụng vố có hiệu quả nhất, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Nhà nước sử dụng vốn tín dụng như một cơng cụ quan trọng để thúc đẩy
sản xuất phát triển, kiểm sốt kinh tế, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật, củng cố hạch tốn kinh tế của các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế…
Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy q trình hình
thành và mở rộng các quan hệ giao lưu kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư vốn ra
nước ngồi và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hố.
III. NỢ Q HẠN
1. Khái niệm
Hoạt động tin dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu tài sản của ngân hàng thương mại, và đem lại phần lợi nhuận lớn
nhất cho ngân hàng thương mại. Nhưng đây cũng là hoạt động ln ln chứa
đựng nguy cơ rủi ro. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với việc khơng thu
được nọ khi đến hạn. Việc phát sinh nợ q hạn là điều khó có thể tránh khỏi,
nhưng nếu nợ q hạn phát sinh q tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến tình trạng mất
khả năng thanh tốn của ngân hàng thương mại. Vậy, thế nào là nợ q hạn?
Theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho
vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy điịnh rõ: Nợ q hạn trong
kinh doanh của ngân hàng là hiện tượng khách hàng khơng có khả năng trả nợ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét