5
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần : Mở đầu - Nội dung - Kết luận và kiến nghị
Mở đầu : Một số vấn đề chung
Nội dung : Gồm 3 chương
Chương 1 : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 : Thực trạng ĐNGV và việc quản lý ĐNGV của hiệu trưởng các
trường THPT chuẩn quốc gia ở tỉnh BRVT.
Chương 3 : Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường
THPT đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam ngay từ thời xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai trò người thầy
giáo “không thầy đố mày làm nên”, không có thầy sẽ không có giáo dục. Điều đó
nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt đến giáo dục, đến đội ngũ giáo viên.
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế
tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp,
Đảng, chính quyền và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp
này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những
bước phát triển mới”. “Cán bộ và giáo viên phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm
được nhiệm vụ, chớ tự túc, tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”. [29].
Nghị quyết TW khóa VIII đã nêu : “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược
phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa ĐNGV
cũng như cán bộ QLGD”. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 của
Chính phủ cũng nêu rõ : “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp
lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao
chất lượng và hiệu quả giáo dục” [9]. Những năm gần đây Đảng, Nhà nước còn có
nhiều các Chỉ thị, Nghị quyết, các chế độ chính sách để quan tâm tới đội ngũ giáo
viên. Điều mong muốn là đất nước ta trở thành một xã hội học tập, trong đó đội ngũ
thầy cô giáo có năng lực, trình độ ngang tầm với sự phát triển của thời đại.
Xuất phát từ những tư tưởng có định hướng đó, nhiều công trình nghiên cứu về
ĐNGV đã được triển khai và gần đây cũng đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu
về việc xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng ĐNGV của các trường và các cơ
sở giáo dục như các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của các tác giả sau :
- Lê Thị Hoan : “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất
lượng dạy học ở trường PTTH tỉnh Thanh Hóa” - Năm 1999.
7
- Nguyễn Xuân Hường : “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
Trường trung học Phòng Không” - Năm 2000.
- Lê Thị Lan Phương : “Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng
cao năng lực chuyên môn cho ĐNGV ở trường Tiểu học tỉnh Phú Thọ” - Năm 2001.
- Đỗ Ngọc Mỹ - TP.Hồ Chí Minh : “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giáo
viên” - Năm 2002.
- Đoàn Thị Bẩy : “Quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT
thành phố Cà Mau tỉnh Cà Mau. Thực trạng và giải pháp”- Năm 2003.
- Nguyễn Thị Hồng Hoa : “Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu
trưởng trường Tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao
chất lượng quản lý đó” - Năm 2005.
Các đề tài nói trên đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác
quản lý cũng như phát triển ĐNGV nói chung. Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu
sâu về thực trạng công tác quản lý ĐNGV của hiệu trưởng các trường THPT chuẩn
quốc gia từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng yêu cầu
của trường THPT chuẩn quốc gia hiện nay. Vì vậy đề tài luận văn thạc sĩ “Các biện
pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường THPT đạt chuẩn quốc gia
ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, sẽ có những nét riêng phù hợp với địa phương nhằm
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường THPT đạt chuẩn quốc gia
của tỉnh.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lý đã xuất hiện
từ rất sớm. Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức để tự vệ hoặc lao
động kiếm sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt
động có tổ chức, phối hợp, điều khiển đối với họ. Những hoạt động đó xuất hiện, tồn
tại và phát triển như một tất yếu khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động
chung của con người đạt được kết quả mong muốn. Đó chính là những dấu ấn đầu
tiên của hoạt động quản lí.
Khi nghiên cứu về cơ sở khoa học quản lý, C.Mác đã khẳng định : “Tất cả mọi
lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít
8
nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực
hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất,
khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó” [11]. Như vậy, đã xuất
hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của
con người theo những yêu cầu nhất định - được gọi là hoạt động quản lí. Từ đó, có
thể hiểu lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều
khiển lao động chung. Xã hội phát triển qua các phương thức sản xuất, thì trình độ
tổ chức, điều hành tất yếu cũng được nâng lên, phát triển theo với những đòi hỏi
ngày càng cao hơn. Khi lao động xã hội đạt tới một trình độ và quy mô phát triển
nhất định thì sự phân công lao động tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một
hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành bộ phận lao động trực tiếp và bộ phận chuyên hoạt
động quản lý, tạo thành các mối quan hệ trong quản lí. Cùng với sự phát triển của xã
hội loài người, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện.
Khái niệm quản lý đã được nhiều tác giả đề cập với những cách tiếp cận khác
nhau. “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất
khác nhau (như kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình, mục đích
hoạt động” [14]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo nghiên cứu từ góc độ xã hội thì
quản lý “là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên
khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống
các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [14]. Đối với
hoạt động của một đơn vị, một tổ chức, tác giả Nguyễn Ngọc Quang xác định, quản
lý “là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những
người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu
dự kiến” [30].
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu :
• Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảo bảo hoàn thành công việc qua
những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
• Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng
sự khác nhau cùng chung một tổ chức.
9
• Quản lý là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố
cơ bản của hệ thống xã hội.
• Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
• Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí
lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của
hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
• Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
• Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
• Quản lý là một hệ thống mở và bản chất của nó là phối hợp các nỗ lực của
con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Cùng với sự đi lên của tổ chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển
mạnh mẽ và có ý nghĩa quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Từ các
lĩnh vực kinh tế, quản lý hành chính Nhà nước, tới các lĩnh vực văn hóa - xã hội…
đều khai thác hiệu quả các thành tựu của khoa học quản lý. Ứng với mỗi lĩnh vực,
công tác quản lý đều đã phát triển thành một khoa học quản lý với những đặc thù
riêng. Khoa học quản lý giáo dục đã hình thành và phát triển khá sớm, trở thành yếu
tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Về mặt lịch sử, khoa học quản
lý giáo dục ra đời và phát triển sau khoa học quản lý kinh tế, vì vậy nó sử dụng được
những thành tựu tiến bộ của khoa học quản lý. Trên thế giới tồn tại hai xu hướng
phát triển về khoa học quản lý giáo dục. Xu hướng thứ nhất là thực hiện quá trình
quản lý giáo dục trên cơ sở của quản lý kinh tế, coi quản lý cơ sở giáo dục như một
loại “Xí nghiệp đặc biệt” [24]. Xu hướng thứ hai, quá trình quản lý giáo dục bắt
nguồn từ lý luận quản lý xã hội, xã hội được chia thành ba lĩnh vực là “chính trị - xã
hội”, “văn hóa - tư tưởng” và “kinh tế”, quản lý xã hội là quản lý ba lĩnh vực đó và
như vậy, quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hóa - tư tưởng [13].
Quản lý giáo dục, theo nghĩa rộng là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã
hội, quá trình đó bao gồm các hoạt động có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, của
các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình… Quản lý giáo
dục, theo nghĩa hẹp bao gồm : quản lý hệ thống giáo dục là quản lý các hoạt động
10
giáo dục đào tạo diễn ra trong các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, toàn quốc) và
quản lý nhà trường.
“Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ đi sau phải lĩnh hội cả những kinh
nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích lũy và truyền lại, đồng thời phải làm
phong phú thêm những kinh nghiệm đó” [11]. Thực hiện quy luật này là chức năng
của giáo dục nói chung và quản lý giáo dục nói riêng. QLGD có hai chức năng là :
“ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội” và “đổi
mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh tế xã hội”. Như vậy, “QIGD là
hoạt động điều hành các nhà trường để giáo dục, vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu
của nền kinh tế” [11]. Với các chức năng trên quản lý giáo dục có vị trí cao nhất
trong việc tạo điều kiện XHH cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách, nhằm
giúp con người đảm nhận và gánh vác được những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
1.2.3. Quản lý nhà trường
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo quy hoạch,
kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD&ĐT. Trường học là một bộ
phận của hệ thống xã hội mà ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo, gọi chung là
“cơ sở giáo dục”. “Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, là nơi thực hiện
chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư được huy động
vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội, thực hiện chức năng tạo
nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai”. [24]
Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở, vừa mang tính giáo dục,
vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ
thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương. Như vậy “Quản lý nhà trường là
gì ? Theo GS.VS Phạm Minh Hạc “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [19]. Ông cho rằng : “Việc quản lý nhà
trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ
trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” và “Quản
lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các
tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được
11
giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành
hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [19].
Có thể thấy, công tác quản lý trường học bao gồm sự quản lý các tác động qua
lại giữa trường học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường. Người ta có thể
phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm sáu thành tố :
Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, thầy giáo, học sinh,
cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giáo dục. Như vậy, các thành tố này được chia
làm ba loại : Thành tố con người, thành tố tinh thần và thành tố vật chất. Quản lý
nhà trường là quản lý hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi
những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả
các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội - kinh tế và
tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh. Người quản lý trường học là hiệu trưởng
của các nhà trường.
Vì vậy, quản lý trường học thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm
của thầy, hoạt động học tập tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy
học. Quản lý trường học là quản lý tập thể giáo viên và học sinh để chính họ lại quản
lý (đối với giáo viên) và tự quản lý (đối với học sinh) quá trình dạy - học, nhằm tạo
ra sản phẩm là nhân cách con người mới. Đồng thời, quản lý trường học còn bao
gồm quản lý các công việc khác có tính chất điều kiện như : Đội ngũ, tổ chức hoạt
động của các đoàn thể trong trường, quản lý cơ sở vật chất, chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần cho cán bộ giáo viên, học sinh .v.v…
1.2.4. Giáo viên
Luật Giáo dục (2007) đã định rõ :
“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc
các cơ sở giáo dục khác”.
“Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp, gọi là giáo viên”. [27]
Những tiêu chuẩn đối với nhà giáo là :
- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt.
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ .
12
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp .
- Lý lịch bản thân rõ ràng. [27]
Theo tiến sĩ Philip Jackson : “Giáo viên là người ra quyết định có hiểu biết,
hiểu được học sinh và có khả năng cấu trúc lại nội dung giảng dạy để học sinh có thể
tiếp thu được nội dung đó, đồng thời trong khi dạy biết khi nào phải dạy cái gì”.
Trong định nghĩa này Philip Jackson muốn nhấn mạnh phẩm chất năng lực và
phương pháp giảng dạy của người giáo viên.
-Nhà bác học AlberTeinstein cho rằng “Giáo viên là người có nghệ thuật tối
thượng là làm thức dậy những thú vui trong trí thức và tình cảm sáng tạo của người
học”.
* Yêu cầu về mặt phẩm chất đạo đức, tư tưởng của người giáo viên hiện nay
Đã là người cán bộ thì ở bất cứ lĩnh vực nào cũng cần phải có những phẩm
chất tốt. Nhưng không có lĩnh vực nào mà phẩm chất lại ảnh hưởng sâu sắc đến
người học như người giáo viên. Bởi vậy phẩm chất của người giáo viên vừa là điều
kiện, vừa là phương tiện để giáo dục học sinh .
Phẩm chất của người giáo viên được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:
- Có niềm tin cách mạng: Niềm tin cách mạng là cơ sở để người giáo viên gắn bó
cuộc đời mình với sự nghiệp cách mạng, của dân tộc, với sự nghiệp giáo dục là bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
- Có lý tưởng nghề nghiệp: Lý tưởng nghề nghiệp biểu hiện bằng lòng say mê nghề
nghiệp , lương tâm nghề nghiệp, lòng tận tụy, hy sinh vì công việc, tác phong làm
việc cần cù, có tinh thần trách nhiệm cao
- Có niềm tin sư phạm: Tin vào bản chất tốt đẹp của con người, tin vào khả năng
giáo dục, tin tưởng và tôn trọng nhân cách của người học.
- Có lòng yêu nghề, yêu trẻ: Lòng yêu nghề, yêu trẻ gắn bó chặt chẽ với nhau, yêu
người bao nhiêu, yêu nghề bấy nhiêu. Có yêu người mới có cơ sở để yêu nghề.
- Có tình cảm trong sáng và cao thượng: Tình cảm này thể hiện ở lòng yêu nghề,
yêu trẻ, hứng thú và nhu cầu làm việc với thế hệ trẻ, yêu thương và đùm bọc học
sinh, vui sướng với những tiến bộ của học sinh .
Ngoài ra người giáo viên còn phải có lòng nhân đạo, thái độ công bằng, thái độ
chính trực, giản dị, khiêm tốn, biết tự kiềm chế, kiên trì, tự tin
13
Tóm lại: Các phẩm chất của người giáo viên càng toàn diện thì càng đạt hiệu quả
giáo dục cao.
*Yêu cầu về năng lực của người giáo viên
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu
cầu của một hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả.
Theo kiến nghị của hội nghị Hội đồng giáo dục Australia và các Bộ trưởng
Giáo dục Đào tạo và Việc làm tại Australia tháng 8 năm 1992 thì có 7 năng lực then
chốt được đề ra. Đây là những năng lực then chốt để tham gia có hiệu quả vào
những mô hình trội của lao động và tổ chức lao động, trong đó có lao động sư phạm:
a. Năng lực thu thập, phân tích và tổ chức thông tin trí thức.
b. Năng lực truyền bá ý tưởng thông tin trí thức.
c. Năng lực kế hoạch hóa và tổ chức các hoạt động.
d. Năng lực làm việc với người khác.
đ. Năng lực đánh giá ước lượng nhằm vào mục đích thực tế.
e. Năng lực giải quyết vấn đề.
f. Năng lực sử dụng công nghệ, những kỹ năng thể chất và cảm xúc cần thiết.
Theo tác giả Vũ Văn Tảo và Trần Văn Hà thì năng lực giải quyết vấn đề là
năng lực có ý nghĩa quan trọng. Biểu hiện mang tính bản chất của năng lực này là
một số khả năng sau:
- Làm rõ, khoanh vấn đề, chỉ rõ nguồn gốc nảy sinh vấn đề.
- Hoàn tất việc giải quyết thích hợp những vấn đề đã đặt ra.
- Thấy trước vấn đề và nghĩ ra những chiến lược đáp ứng thích hợp.
- Đánh giá kết quả, kiểm soát cả quá trình.
Theo quan điểm của nhóm tác giả cuốn “Tâm lý học” do Phạm Minh Hạc chủ
biên, đã phân chia những năng lực sư phạm riêng thành 3 nhóm.
Nhóm thứ nhất: Đó là lòng yêu trẻ (đây chính là cái trục cơ bản trong cấu trúc
của năng lực sư phạm nói chung), là năng lực kiềm chế, tự chủ, năng lực điều khiển
được các trạng thái tâm lý, tâm trạng của mình khi tiến hành các hoạt động sư phạm.
Nhóm thứ hai: Là các năng lực dạy học, năng lực truyền đạt thông tin đến
cho học sinh, đó là năng lực giải thích, năng lực khoa học, năng lực ngôn ngữ, năng
lực chuyên môn
14
Nhóm thứ ba: Là những năng lực tổ chức, giao tiếp trong quá trình dạy học
giáo dục. Năng lực này thể hiện ở hai mặt: Tổ chức tập thể học sinh và tổ chức công
việc của bản thân. Năng lực này được thể hiện ở tính cẩn thận và chính xác, ở kỹ
năng lập kế hoạch hoạt động và kỹ năng kiểm tra hoạt động. Ngoài ra còn là năng
lực giao tiếp, óc quan sát sư phạm, sự khéo léo sư phạm, năng lực ám thị, óc tưởng
tượng sư phạm, năng lực phân phối chú ý cho việc điều khiển và bảo quản lớp học.
Theo tác giả Hà Nhật Thăng, khi bàn về cấu trúc nhân cách của người giáo
viên chủ nhiệm, đã nhấn mạnh đến hệ thống các năng lực, kỹ năng sư phạm cần
thiết, đó là:
-Năng lực tiếp cận đối tượng (học sinh, phụ huynh, các đối tượng xã hội cần
giao tiếp) và khả năng đối xử cá biệt.
-Năng lực phán đoán về đối tượng, công việc, hiệu quả giao tiếp, hoạt động
giáo dục.
-Lập kế hoạch chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác chủ nhiệm, công tác GD.
-Năng lực cảm hoá, thuyết phục, xây đựng uy tín.
-Năng lực biểu lộ và kiềm chế tình cảm, chủ định.
-Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục.
-Năng lực sử dụng ngôn ngữ, giải quyết các tình huống sư phạm.
-Năng lực tích luỹ tri thức.
-Năng lực tạo ra hứng thú, động cơ hoạt động.
-Năng lực phân tích, tổng hợp và sự nhạy cảm sư phạm.
-Năng lực giảng dạy môn học phụ trách.
Hệ thống các năng lực trên thể hiện trong toàn bộ hoạt động giáo dục, chúng
hỗ trợ và chi phối lẫn nhau tạo ra bộ mặt nhân cách của người giáo viên.
Như vậy, năng lực sư phạm trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên
được biểu hiện ở ba nhóm:
- Năng lực dạy học.
- Năng lực giáo dục.
- Năng lực tự hoàn thiện.
Nhóm 1: Các năng lực dạy học được biểu hiện ở:
- Nắm vững, lựa chọn và tổ chức sắp xếp các trí thức.
- Lựa chọn, phân loại, phối hợp các phương thức dạy học.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét