Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro đối với dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
Express cũng theo gót Diner Club cho ra đời chiếc thẻ American Express, vì
sự hạn chế chỉ sử dụng trong việc ăn uống du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa
phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội và chưa được xem như là chiếc thẻ
thân kỳ (The Magic Card)
Khi chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra tất cả các loại thẻ Credit Card và
Charge Card đã bị cấm sử dụng, cho đến sau chiến tranh thế giới thứ 2 mới
được phổ biến trở lại. Vì lợi tức mag lại từ thẻ tín dụng khá nhiều nên các
ngân hàng bắt đầu nhúng tay vào, tuy nhiên nó vẫn chỉ được sử dụng tại các
địa phương và các cửa hàng bán lẻ. Cho đến năm 1970 khi mà kỹ thuật điện
toán bắt đầu phát triển và hệ thống căn bản cho “The Standards For Magnetic
Strip” được hình thành, thì kỹ nghệ Credit card mới thực sự phát triển mạnh
mẽ và trở thành một phần của thời kỳ thông tin.
Đến năm 1966 Bank American (tiền thân của Visa) bắt đầu liên kết với
các ngân hàng ở các tiểu bang khác, trao quyền phát hành thẻ American Card
cho các ngân hàng thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, khởi đầu cho giai
đoạn tăng tốc trong dịch vụ thẻ. Tới năm 1977 thẻ của Bank of American
được chấp nhận trên toàn cầu. Thay vì tên BankAmerican tên thẻ Visa ra đời
với màu sắc đặc trưng vẫn là xanh lam, trắng và vàng.
Cùng năm 1966 ba nhóm ngân hàng lớn phía đông nước Mỹ quyết
định hợp tác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng, có tên là Interbank
Card Association (ICA). Sau này ICA được đổi thành MasterCard, ICA ban
hành các quy định về cấp phép giao dịch thanh toán bù trừ, các biện pháp
makerting, bảo mật các vấn đề liên quan tới luật pháp nhằm vận hành công
việc một cách có hiệu quả. Năm 1968 ICA bắt đầu mở rộng chiến lược hoạt
động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng
Banco National của Mexico. Sau đó ICA tiếp tục tìm kiếm đối tác tại các thị
trường châu Âu và cho ra đời thẻ EuroCard. Cũng vào năm 1968 ICA kết nạp
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
5
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
một số thành viên là một số các ngân hàng tại Nhật nhằm từng bước thâm
nhập nắm bắt thị trường Đông Á.
Bên cạnh những thuận lợi thì trong lịch sử phát triển của lĩnh vực thẻ
cũng đã chứng kiến những khó khăn nhất định. Điển hình phải kể đến sự kiện
vào mùa giáng sinh năm 1966 do bất cẩn trong sổ sách, các ngân hàng
Chicago đã gửi thẻ tín dụng tràn lan cho các gia đình, ngay cả người chết và
trẻ sơ sinh cũng được gửi. Nhiều người đã sử dụng hoặc bán lại các loại chỉ
có người có tên trên thẻ tín dụng mới là người chịu trách nhiệm. Vụ thẻ mà họ
nhận được một cách vô tội vạ vì họ phát hiện rằng theo pháp luật thì đổ bể đó
đã buộc chính phủ phải chấn chỉnh ngành kinh doanh mới mẻ này. Tháng
10/1970 tổng thống Richard Nixon ký một đạo luật cấm những nhà phát hành
thẻ không được gửi thẻ cho những ai không có nhu cầu và quy định rằng nếu
người mang thẻ báo là bị mất hoặc bị ăn cắp thẻ thì họ sẽ được xoá trách
nhiệm thanh toán nợ. Sau đó pháp luật quy định ngày càng chặt chẽ hơn trong
vấn đề thẻ.
Ngày nay thẻ đã phát triển và xuất hiện rộng rãi trên toàn thế giới, và
trở thành một phương tiện thanh toán phổ biến ở các nước phát triển, các công
ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận
này. Thẻ dần dần được xem là công cụ văn minh thuận lợi trong các cuộc giao
dịch mua bán. Các loại thẻ Master, Visa, Diner Club, JCB, American Express
được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và các loại thẻ này thay nhau phân chia
những thị trường rộng lớn.
1.1.2. Khái niệm và Phân loại thẻ
1.1.2.1 Khái niệm
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời
từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự
ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
6
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh
toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của
mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.
Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn
quốc tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của
nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ. Ngoài ra trên thẻ
còn có thể có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo
tiêu chuẩn của tổ chức tập đoàn thẻ quốc tế
1.1.2.2 Phân loại
Hiện nay về lý thuyêt có khá nhiều cách phân loại thẻ nhưng chủ yếu
người ta phân loại theo 2 tiêu thức chính : phân loại theo công nghệ sản xuất
và phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:
 Nếu căn cứ theo công nghệ sản xuất chia làm 3 loại : thẻ in nổi
(Embossding Card), thẻ băng từ (Magnetic stripe), thẻ thông
minh (Smart Card)
 Nếu căn cứ vào tính chất thanh toán có thể chia thành : thẻ tín
dụng quốc tế (Credit Card) và thẻ ghi nợ (Debit Card).
 Ngoài ra người ta còn có thể phân loại theo : phân loại theo phạm
vi lãnh thổ, phân loại theo chủ thể phát hành thẻ
1.1.3. Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh thẻ
Hiện nay lĩnh vực thẻ trong một quốc gia có sự tham gia chặt chẽ của 4
thành phần cơ bản là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ
thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Đối vởi thẻ quốc tế còn thêm 1 thành phần
nữa là các tổ chức thẻ quốc tế.
*Chủ thẻ
Hiểu một cách đơn giản thì chủ thẻ là người sở hữu hợp pháp chiếc thẻ.
Chủ thẻ là người được ngân hàng, tổ chức thẻ chấp nhận phát hành thẻ trên cơ
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
7
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
sở năng lực tài chính khả năng chi trả của người đó hoặc dựa vào sự bảo lãnh
của một tổ chức. Đó cũng có thể là một người được tổ chức uỷ quyền sử dụng
thẻ.
Chủ thẻ được phép dùng chiếc thẻ để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền.
Mỗi khi thanh toán cho các cơ sở chấp nhận thẻ để mua hàng hoá dịch vụ
hoặc trả nợ, chủ thẻ phải xuất trình thẻ để nơi đây kiểm tra theo quy trình và
lập biên lai thanh toán. Đối với thẻ tín dụng sau một khoảng thời gian nhất
định tuỳ theo quy định của từng ngân hàng phát hành, chủ thẻ sẽ nhận được
sao kê. Sao kê là bản thông báo chi tiết toàn bộ các giao dịch chi tiêu sử dụng
thẻ, số dư nợ cuối kỳ, ngày đến hạn thanh toán hoặc số tiền thanh toán tối
thiểu bắt buộc, các khoản lãi và phí phát sinh và các thông báo liên quan tới
việc sử dụng thẻ. Căn cứ vào thông tin trên sao kê, chủ thẻ sẽ thực hiện thanh
toán khoản tín dụng thẻ đã sử dụng cho ngân hàng phát hành thẻ.
*Ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành là đơn vị phát hành thẻ cho chủ thẻ. Ngân hàng
phát hành chịu trách nhiệm nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và ra quyết định
phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc theo dõi
chi tiêu, thanh toán cuối cùng với chủ thẻ.
Điều kiện bắt buộc không thể thiếu đó là: ngân hàng phát hành phải là
thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế. Ngân hàng phát hành thẻ phải
ký kết với chủ thẻ các điều khoản, điều kiện sử dụng và thanh toán thẻ trên cơ
sở pháp luật và những điều khoản chung của các tổ chức thẻ quốc tế. Ngân
hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ ba, là một ngân
hàng hoặc tổ chức tài chính tín dụng khác trong việc thanh toán và phát hành
thẻ tín dụng.
*Ngân hàng thanh toán
Đây là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thanh
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
8
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
toán thẻ. Nó giữ vai trò là cầu nối giúp chủ thẻ có thể mua sắm hàng hoá,
thanh toán tiền dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ đó và giúp đơn vị chấp nhận
thẻ thu tiền của chủ thẻ. Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò là ngân hàng
thanh toán vừa đóng vai trò là ngân hàng phát hành.
Trong hợp đồng chấp nhận thẻ ký kết với các đơn vị cung ứng hàng
hoá dịch vụ, đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ cam kết: chấp
nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng, cung cấp các
thiết bị cần thiết cho đơn vị để phục vụ cho việc chấp nhận thanh toán thẻ,
kèm theo những hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên
cách thức vận hành cùng với dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng đi kèm trong suốt
thời gian hoạt động, quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại
những đơn vị này. Thông thường ngân hàng thanh toán thu từ các đơn vị cung
ứng dịch vụ hàng hoá có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ một mức phí chiết
khấu cho việc xử lý các giao dịch có sử dụng thẻ tại đây.
*Đơn vị chấp nhận thẻ
Đơn vị chấp nhận thẻ là các thành phần kinh doanh hàng hoá và dịch
vụ ký kết với ngân hàng thanh toán hợp đồng về việc chấp nhận thanh toán
thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng Các đơn vị này được trang bị máy
móc kỹ thuật để có thể thanh toán, chi tiêu bằng thẻ của các chủ thẻ đến mua
hàng hoá dịch vụ của các đơn vị này.
Ngân hàng thanh toán trước khi ký hợp đồng chấp nhận thẻ với bất kỳ
một đơn vị nào đều phải tiến hành đánh giá nhiều mặt về đơn vị đó: ngành
nghề kinh doanh, đạo đức kinh doanh, năng lực Sau khi đã ký kết hợp đồng
với ngân hàng thanh toán, đơn vị chấp nhận thẻ phải thực hiện đúng theo
những điều khoản đã được ghi trong hợp đồng. Đơn vị chấp nhận thẻ ko được
thu phí của chủ thẻ. Mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỉ lệ phí
chiết khấu theo lượng tiền mỗi giao dịch nhưng lại không được thu phí từ chủ
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
9
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
thẻ, các đơn vị chấp nhận thẻ vẫn có được lợi nhuận vì có lợi thế cạnh tranh.
Bởi việc chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ giúp các đơn vị này thu hút được
một lượng lớn khách hàng, góp phần tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
*Tổ chức thẻ quốc tế
Là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong
mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính tín dụng lớn có
mạng lưới hoạt động rộng khắp và đạt được sự nổi tiếng với thương hiệu và
các sản phẩm đa dạng: tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard, công ty thẻ
AmericanExpress, công ty thẻ JCB, công ty thẻ DinersClub, công ty
Mondex Tổ chức thẻ quốc tế đưa ra những quy định cơ bản về hoạt động
phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ, đóng vai trò trung gian giữa các tổ chức
và công ty thành viên trong việc điều chỉnh và cân đối các lượng tiền thanh
toán giữa các công ty thành viên.
1.1.4 Các nghiệp vụ dịch vụ thẻ tín dụng
1.1.4.1 Nghiệp vụ phát hành thẻ
Phát hành thẻ là nghiệp vụ phát sinh đâu tiên trong dịch vụ thẻ tại ngân
hàng. Nghiệp vụ phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm việc quản lý và triển
khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, theo dõi chi tiêu và thu nợ từ khách
hàng. Đây ko chỉ là khâu cung cấp cho khách hàng một chiếc thẻ mà nó còn
bao gồm cả một quá trình phục vụ đằng sau liên quan đến việc sử dụng chiếc
thẻ của khách hàng nó bao gồm những nội dung chủ yếu cơ bản sau:
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
10
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ nghiệp vụ phát hành thẻ
(1) Đầu tiên khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ cho tổ
chức phát hành. Bộ hồ sơ phát hành thẻ phải được hoàn thiện theo yêu cầu
của tổ chức phát hành, bao gồm một số thông tin cơ bản như: họ tên, độ tuổi,
giới tính, mức thu nhập, nơi làm việc, tình trạng cư trú
(2) Tổ chức phát hành thẻ tiến hành xét duyệt bộ hồ sơ xin phát hành
của khách hàng. Tiến trình xét duyệt ðýợc tiến hành từng bước như sau: thẩm
định chính xác thông tin của khách hàng cung cấp, đánh giá các năng lực của
khách hàng như năng lực hành vi, năng lực tài chính đánh giả khả năng rủi
ro trên cơ sở đó tổ chức phát hành tiến hành ra quyết định chấp nhận hay
không chấp nhận yêu cầu phát hành thẻ của khách hàng hoặc đưa ra những
yêu cầu bổ sung.
(3) Nếu hồ sơ xin phát hành thẻ được chấp nhận, tổ chức phát hành
tiến hành phát hành thẻ cho khách hàng - chủ thẻ. Việc phát hành sẽ bao gồm:
mở tài khoản thẻ cho khách hàng, loại thẻ chấp nhận phát hành lập hồ sơ xin
quản lý chủ thẻ, xác định hạng thẻ , xác định hạn mức chi tiêu cho chủ thẻ và
cuối cùng là in thẻ và trả thẻ cho chủ thẻ.
Sau khi giao thẻ cho chủ thẻ, tổ chức phát hành còn phải làm một số
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
Khách
hàng
Chủ thẻ
Tổ chức
phát hành
Phát hành
thẻ
1 2
3
11
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
việc sau:
 Quản lý hồ sơ thông tin chủ thẻ
 Quản lý hoạt động sử dụng của chủ thẻ
 Thực hiện thu nợ chủ thẻ
 Tổ chức thanh toán bù trừ với các tổ chức thẻ quốc tế
Trong hoạt dộng triển khai và phát hành thẻ, ngoài việc hưởng phí phát
hành thu được từ chủ thẻ, các ngân hàng còn được hưởng khoản phí trao đổi
do ngân hàng thanh toán thẻ chia sẻ từ phí thanh toán thẻ thông qua các tổ
chức thẻ quốc tế. Đây là phần lợi nhuận cơ bản của các tổ chức tài chính,
ngân hàng phát hành thẻ. Từ nguồn thu này, các tổ chức tài chính, ngân hàng
phát hành thẻ đưa ra được những chế độ miễn lãi và ưu đãi khác cho khách
hàng để mở rộng khách hàng sử dụng thẻ cũng như tăng doanh số sử dụng
thẻ.
1.1.4.2 Nghiệp vụ thanh toán thẻ
Khi nghiệp vụ phát hành thẻ kết thúc đó là lúc chủ thẻ nhận được chiếc
thẻ và chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chi tiêu, thanh toán hoặc rút tiền theo hạn
mức tín dụng đã ký kết với ngân hàng phát hành. Khi tới mua bán giao dịch
chấp nhận thanh toán thẻ họ có thể đưa thẻ cho người bán để thanh toán. Có
thể thanh toán bằng máy - hình thức thanh toán chủ yếu, hoặc có thể thanh
toán bằng tay. Việc thanh toán chỉ mất 3-4 giây, rất nhanh. Tuy nhiên thực tế
diễn ra thì lại khá phức tạp. Có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
Giai đoạn 1: chấp nhận thanh toán thẻ
Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ nghiệp vụ chấp nhận thanh toán thẻ
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
12
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
( 1 ) Mỗi khi chủ thẻ đến mua hàng tại đơn vị chấp nhận thẻ và dùng
thẻ để thanh toán. Đơn vị chấp nhận thẻ cà thẻ qua máy điện tử và nhập dữ
liệu. Những thông tin cần thiết như: thông tin chủ thẻ, thông tin về đơn vị
chấp nhận thẻ, thông tin về giao dịch sẽ được chuyển đến trung tâm thanh
toán thẻ tín dụng quốc tế.
( 2 ) Tại trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế: dữ liệu từ đơn vị
chấp nhận thẻ được tiếp nhận và chuyển đến ngân hàng phát hành để yêu cầu
ngân hàng ra quyết định chấp nhận hay từ chối khoản chi tiêu đó của chủ thẻ.
( 3 ) Ngân hàng phát hành nhận dữ liệu từ trung tâm thanh toán thẻ tín
dụng quốc tế, sẽ tiến hành xử lý: kiểm tra hạn mức của thẻ để đảm bảo
khoản chi tiêu đó của chủ thẻ vẫn nằm trong hạn mức được cấp hoặc ko nằm
trong những trường hợp được phép chi tiêu: nằm trong danh sách Blulltin ,
thẻ bị khoá
( 4 ) Nếu chấp nhận ngân hàng phát hành sẽ gửi dữ liệu thông báo chấp
nhận khoản chi tiêu đó của chủ thẻ.
( 5 ) Trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế nhận thông báo từ ngân
hàng phát hành và gửi ngược lại cho đơn vị chấp nhận thẻ.
( 6 ) Tại đơn vị chấp nhận thẻ, sau khi nhận được thông báo chấp nhận
từ trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, máy điện tử sẽ in ra hoá đơn để
chủ thẻ xác nhận.
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
Chủ thẻ Đơn vị
chấp
nhận thẻ
Trung
tâm thanh
toán thẻ
Ngân
hàng phát
hành thẻ
21 3
6
5 4
13
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
Giai đoạn 2: Thu tiền và thu nợ
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ nghiệp vụ thu tiền và thu nợ
( 1 ) Đơn vị chấp nhận thẻ gửi thông tin về giao dịch chấp nhận thẻ ở
trên cho ngân hàng thanh toán.
( 2 ) Ngân hàng thanh toán báo có luôn cho đơn vị chấp nhận thẻ băng
cách ghi có khoản tiền giao dịch cho đơn vị chấp nhận thẻ, đồng thời gửi
thông tin giao dịch cho trung tâm thanh toán thẻ tín dụng quốc tế. Trung tâm
thanh toán thẻ tín dụng quốc tế thực hiện ghi có cho ngân hàng thanh toán số
tiền đó, đồng thời ghi nợ và gửi dữ liệu về khoản giao dịch cho ngân hàng
phát hành.
( 3 ) Ngân hàng phát hành nhận thông tin từ trung tâm thanh toán thẻ
tín dụng quốc tế, sẽ chính thức tiến hành ghi nợ hạn mức tín dụng của khách
hàng. Đến kỳ ngân hàng phát hành sẽ lên sao kê các khoản chi tiêu trong kỳ
của chủ thẻ và gửi sao kê đó cho chủ thẻ, đồng thời yêu cầu thanh toán.
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
Đơn vị
chấp nhận
thẻ
Chủ thẻ
Trung tâm
thanh toán
thẻ
Ngân hàng
phát hành
thẻ
1 2
34
14
Ngân hàng
thanh toán

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét