Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Hoàn thiện chính sách tín dụng TM tại Cty Phân lân nung chảy Văn điển

khách hàng sẽ phải trả toàn bộ số tiền mua hàng nhng nếu ngời này trả trong vòng
10 ngày đầu, họ sẽ đợc hởng một khoản chiết khấu là 2% giá trị hàng hoá.
2.1.1 Thời kỳ tín dụng th ơng mại
Thời kỳ tín dụng là khoảng thời gian mà khoản tín dụng đợc chấp nhận. Nó phụ
thuộc rất nhiều vào từng ngành nghề kinh doanh, nhng phần lớn là vào khoảng
30-120 ngày. Nếu doanh nghiệp đa ra một khoản chiết khấu thì thời kỳ tín dụng
gồm hai phần: thời kỳ tín dụng thuần tuý và thời kỳ chiết khấu tiền mặt.
Thời kỳ tín dụng thuần tuý là khoảng thời gian mà khách hàng buộc phải trả tiền.
Còn thời kỳ chiết khấu tiền mặt là khoảng thời gian mà nếu khách hàng trả tiền sẽ
đợc hởng chiết khấu. Nh trong ví dụ trên, với điều kiện 2/10 và toàn bộ 30 thì
thời kỳ tín dụng thuần tuý là 30 ngày và thời kỳ chiết khấu tiền mặt là 10 ngày.
Độ dài của thời kỳ tín dụng chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Yếu tố quan trọng nhất
là thời kỳ hàng dự trữ và chu kỳ kinh doanh của khách hàng. Nếu mọi yêú tố khác
cân bằng thì thời kỳ hàng dự trữ và chu kỳ kinh doanh càng ngắn thì thời kỳ tín
dụng càng ngắn. Điều này sẽ rõ hơn qua sơ đồ.
Sơ đồ 1: Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Chu kỳ kinh doanh bao gồm hai thời kỳ là thời kỳ hàng dự trữ và thời kỳ các
khoản phải thu. Thời kỳ các khoản dự trữ là khoảng thời gian kể từ khi khách hàng
mua hàng hoá của doanh nghiệp để dự trữ cho tới lúc bán chúng. Thời kỳ các
khoản phải thu là khoảng thời gian sau đó cho tới khi ngời khách hàng này thu đợc
tiền từ số hàng đã bán.
5
Bắt đầu dự
trữ
Giao hàng cho
ngời mua
Thu tiền bán
hàng
Trả tiền cho ngời
bán
Thời kỳ hàng dự trữ
Thời kỳ các khoản
phải thu
Thời kỳ các khoản phải trả
Thời kỳ tiền mặt
Căn cứ vào phơng diện thu chi ngân quỹ, chu kỳ kinh doanh đợc chia thành hai
thời kỳ là thời kỳ các khoản phải trả và thời kỳ tiền mặt. Thời kỳ các khoản phải
trả là khoảng thời gian từ khi khách hàng nhận hàng của doanh nghiệp cho tới khi
thanh toán cho lô hàng. Còn khoảng thời gian kể từ khi ngời khách hàng này thanh
toán tiền cho tới khi nhận đợc tiền bán hàng gọi là thời kỳ tiền mặt. Cần chú ý
rằng thời kỳ tín dụng mà doanh nghiệp chấp nhận cấp cho khách hàng chính là
thời kỳ các khoản phải trả của khách hàng.
Bằng cách cấp khoản tín dụng thơng mại, doanh nghiệp đã tài trợ một phần chu
kỳ kinh doanh của khách hàng. Và vì thế cũng rút ngắn chu kỳ tiền mặt của ngời
đó. Nếu thời kỳ tín dụng của doanh nghiệp dài hơn thời kỳ hàng dự trữ của ngời
mua hàng thì chẳng những chúng ta tài trợ cho việc mua hàng dự trữ mà còn tài trợ
cho một phần các khoản phải thu của khách hàng.
Hơn nữa, nếu thời kỳ tín dụng của chúng ta dài hơn chu kỳ kinh doanh của ngời
mua hàng có nghĩa là ta đã tài trợ cho mọi mặt hoạt động kinh doanh của ngời này
từ lúc mua hàng cho đến khi bán hết hàng. Nh vậy ngời mua đợc hởng một khoản
tín dụng từ doanh nghiệp ngay cả khi lợng hàng hoá đã đợc bán lại. Ngời này có
thể sử dụng khoản tín dụng này cho những mục đích khác. Do đó chu kỳ kinh
doanh thờng là mức giới hạn trên của thời kỳ tín dụng.
Có một số nhân tố tác động tới thời kỳ tín dụng. Trong các nhân tố này cũng có
những nhân tố tác động tới chu kỳ kinh doanh và qua đó ảnh hởng tới thời kỳ tín
dụng. Sau đây là những nhân tố chủ yếu:
Độ bền của hàng hoá và chi phí bổ sung: các hàng hoá mau hỏng thờng thu đợc
tiền hàng nhanh và có chi phí bổ sung tơng đối thấp. Đối với những hàng hoá
này, thời kỳ tín dụng cũng ngắn hơn. Chẳng hạn nh trong việc bán thực phẩm
nh hoa quả tơi thờng có thời kỳ tín dụng là 7 ngày trong khi đối với bán đồ
trang sức cần điều kiện tín dụng là 5/30 và thời kỳ tín dụng thuần tuý là 4
tháng.
Nhu cầu của ngời tiêu dùng: những hàng hoá đã có tiếng trên thị trờng, đợc tiêu
thụ nhanh, dễ dàng, thời kỳ tín dụng đợc quy định ngắn hơn. ngựơc lại những
mặt hàng mới hay những sản phẩm bán chậm thờng có thời kỳ tín dụng dài hơn
để có thể thu hút đợc ngời mua hàng. Tơng tự nh vậy đối với những hàng hoá
có tính chất mùa vụ, thời kỳ tín dụng thờng dài hơn trong những khoảng thời
gian không phải mùa vụ (là lúc mà nhu cầu tiêu dùng thấp).
6
Chi phí, khả năng sinh lời và tính chuẩn hoá: những hàng hoá tơng đối rẻ thờng
có thời kỳ tín dụng thấp. Đối với những hàng hoá có tính chuẩn hóa và nguyên
vật liệu thô cũng vậy. Những hàng hoá này thờng ít tăng giá và có tỷ suất lợi
nhuận cao, cả hai điều này đều dẫn tới thời kỳ tín dụng ngắn.
Rủi ro tín dụng: giả sử là mọi khách hàng đều đợc mua chịu hàng hoá thì
khách hàng nào có mức rủi ro càng lớn thì thời kỳ tín dụng đợc chấp nhận càng
ngắn.
Giá trị của khoản tín dụng: nếu khoản tín dụng tơng đối nhỏ thì thời kỳ tín
dụng càng ngắn bởi các tài khoản nhỏ thờng mất nhiều chí phí để quản lý và
đây là những khách hàng ít quan trọng.
Sự cạnh tranh: việc bán chịu cũng là một yếu tố cạnh tranh. Do vậy, trong thị
trờng có tính cạnh tranh cao thì thời kỳ tín dụng càng dài nhằm thu hút khách
hàng.
Nhóm khách hàng: một ngời bán hàng đơn thuần thờng đa ra các điều kiện tín
dụng khác nhau đối với từng loại khách hàng. Ví dụ nh đối với khách hàng bán
buôn và khách hàng bán lẻ, thời kỳ tín dụng đối với hại loại khách hàng này
cũng khác nhau.
2.1.2 Chiết khấu tiền mặt
Chiết khấu tiền mặt là một bộ phận nằm trong điều kiện tín dụng. Việc đa ra mức
lãi suất tiền mặt nhằm hai mục đích: mục đích thứ nhất của là nhằm đẩy nhanh tốc
độ thu tiền, mục đích thứ hai là nhằm định giá cao hơn đối với những khách hàng
muốn kéo dài thời gian trả tiền.
Cần lu ý rằng khi đa ra mức chiết khấu, trong thời kỳ chiết khấu, khoản tín dụng
đợc miễn phí. Chỉ sau khi hết thời kỳ chiết khấu, khách hàng mới phải trả chi phí
cho khoản tín dụng. Với điều kiện tín dụng là 2/10 và toàn bộ 30, ngời mua
hàng có thể trả trong 10 ngày để nhận đợc khoản tín dụng miễn phí, hoặc có thể
trả vào ngày thứ 30 để tận dụng tối đa thời gian sử dụng khoản tín dụng thay cho
việc thay cho việc từ bỏ khoản chiết khấu đợc hởng. Nh vậy, ngời mua đợc hởng
khoản tín dụng trong 30-10=20 ngày.
7
Chi phí của khoản tín dụng
Trong ví dụ trên, khoản chiết khấu có vẻ khá nhỏ. Với điều kiện tín dụng 2/10 và
toàn bộ 30, việc thanh toán chỉ đem lại cho ngời mua khoản chiết khấu 2%. Liệu
nó có là động lực đáng kể? Câu trả lời là có vì lãi suất ngầm định khá cao. Giả sử
khoản tín dụng trị giá 1000 đồng, ngời mua có thể trả 980 đồng trong vòng 10
ngày hoặc đợi 20 ngày sau mới trả lãi cho khoản vay này. Vậy lãi suất là bao
nhiêu? lãi suất của khoản vay trong 20 ngày là:
20 đồng/980 đồng =2.0408%.
Ta có thể quy đổi trong lãi suất năm là:
(1+0.020408)
360/20
1 =44.6%
Nh vậy đây là một nguồn tài trợ đắt đỏ. Với mức lãi suất quá cao nh vậy có vẻ nh
ngời bán không có lợi ích gì đối với các khoản thanh toán sớm. Bỏ qua khả năng
không thanh toán của ngời mua, việc khách hàng từ bỏ khoản chiết khấu chắc
chắn sẽ tác động đến lợi ích của ngời bán.
Chiết khấu tiền mặt và kỳ thu tiền bình quân (ACP)
Khi chiết khấu tiền mặt khuyến khích ngời mua trả tiền sớm thì cũng có nghĩa là
rút ngắn chu kỳ các của các khoản phải thu. Nếu các điều kiện khác không đổi thì
nó sẽ làm giảm đầu t của doanh nghiệp vào các khoản phải thu.
Quy mô các khoản phải thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào lợng bán chịu và kỳ
thu tiền bình quân. Trong đó kỳ thu tiền bình quân (ACP-Average Collection
Period) đợc tính theo công thức sau:
Ví dụ, một doanh nghiệp có thời kỳ tín dụng tín dụng thuần tuý là 30 ngày, nếu
không có chiết khấu thì kỳ thu tiền bình quân là 30 ngày. Giả sử doanh số bán
hàng trong năm của doanh nghiệp là 15 triệuđồng. Khi đó doanh số bán hàng hàng
ngày là:
15 triệu đồng/365 = 41,096 đồng
8
Doanh thu bán chịu bình quân một ngày
Kỳ thu tiền
bình quân
=
Giá trị các khoản phải thu
Và giá trị các khoản phải thu là: 41,096 đồng*30= 1.232,88 đồng
Khi mức chiết khấu đợc đa ra với thời kỳ chiết khấu là 10 ngày thì có 50% khách
hàng (hoặc tơng ứng với 50% lợng hàng bán) sẽ trả trong 10 ngày. Những khách
hàng còn lại sẽ trả tiền trong thời gian trung bình là 30 ngày. Vậy ACP mới là bao
nhiêu? Việc gì sẽ xảy ra đối với đầu t vào các khoản phải thu?
Khi một nửa số khách hàng trả vào ngày thứ 10 và nửa kia trả vào ngày thứ 30 thì
ACP mới là:
ACP
mới
= 0.5*10 + 0.5*30 = 20 (ngày)
ACP giảm từ 30 xuống 20 ngày và các khoản phải thu vì thế giảm xuống là:
41.096*10 = 410,96 đồng
Nh vậy khoản đầu t vào các khoản phải thu giảm xuống đáng kể.
2.1.3 Công cụ tín dụng th ơng mại
Công cụ tín dụng là cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần giữa khách hàng với
doanh nghiệp. Hiện nay có một số công cụ tín dụng phổ biến sau:
Hoá đơn bán hàng:
Trong thơng mại nội địa, hầu hết các khoản tín dụng tồn tại dới dạng tài khoản
mở. Điều này có nghĩa là công cụ tín dụng duy nhất là các hoá đơn bán hàng. Các
hoá đơn này đợc gửi cùng với hàng hoá chuyên chở tới ngời mua. Khi khách hàng
nhận đợc hàng hóa sẽ ký vào hoá đơn thì lúc này hoá đơn có giá trị về mặt pháp lý
về việc khách hàng nợ tiền doanh nghiệp. Sau đó thủ tục giữa doanh nghiệp và
khách hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng sang tài khoản của
doanh nghiệp.
Thơng phiếu:
Tuy nhiên cũng có một số công cụ tín dụng khác đợc sử dụng trong đó công cụ đ-
ợc sử dụng rộng rãi nhất là thơng phiếu. Thơng phiếu là phiếu nhận nợ đặc biệt mà
ngời giữ nó có quyền yêu cầu trả tiền khi đến hạn. Trong thơng phiếu ghi rõ số
tiền và hạn trả tiền mà ngời mua phải thực hiện. Để thanh toán, thơng phiếu đợc
9
gửi đến ngân hàng của ngời mua cùng với các hoá đơn chứng từ về việc chuyển
hàng.
Dựa trên cơ sở ngời lập thơng phiếu, thơng phiếu đợc chia thành hai loại: hối phiếu
và kỳ phiếu.
Hối phiếu là một phiếu ghi nợ do doanh nghiệp lập ra để yêu cầu khách hàng của
mình trả một số tiền nhất định nào đó trong tơng lai. Nếu ngời bán yêu cầu trả tiền
ngay thì đó là hối phiếu trả tiền ngay, còn ngời bán không yêu cầu trả tiền ngay thì
hối phiếu này đợc gọi là hối phiếu có thời hạn.
Khi hối phiếu đợc gửi cho ngời mua và đợc ngời mua hứa chấp nhận trả tiền vào
một ngày nào đó trong tơng lai thì nó đợc gọi là chấp nhận thơng mại. Ngời mua
sẽ gửi chấp nhận thơng mại lại cho ngời bán. Ngời bán có thể giữ chấp nhận thơng
mại để đơi đến ngày lấy tiền hoặc bán chấp nhận thơng mại cho một ngời nào đó.
Nếu ngân hàng chấp nhận thơng phiếu thì có nghĩa là ngân hàng đảm bảo cho khả
năng chi trả của thơng phiếu. Quá trình này tơng đối phổ biến trong thơng mại
quốc tế, chấp nhận của ngân hàng đợc mua đi bán lại rất nhiều trên thị trờng tiền
tệ.
Kỳ phiếu là một phiếu nhận nợ do ngời mua lập ra, cam kết trả một số tiền nhất
định cho doanh nghiệp khi món nợ đến hạn. Kỳ phiếu cũng có thể bán lại cho
khách hàng khác hay cho ngân hàng hoặc dùng làm vật thế chấp để vay tiền ngân
hàng trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp phát hành. Đây là hình thức đơn giản, tiện lợi để vay tiền ngân hàng
ở địa phơng khác không thuộc phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nếu nh doanh
nghiệp có kỳ phiếu của các doanh nghiệp khác thuộc địa phơng này,
Hợp đồng bán hàng có điều kiện:
Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng bán hàng có điều kiện nh là một
công cụ tín dụng thơng mại. Hợp đồng này đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì
quyền sở hữu hàng hoá cho đến khi ngời mua trả hết tiền. Các hợp đồng bán hàng
có điều kiện thờng đợc trả làm nhiều lần mà mỗi lần đều có chi phí lãi suất tơng
ứng trong khoản tiền chi trả.
10
2.2 Phân tích tín dụng.
Khi xem xét việc cấp tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp phải cố gắng phân
biệt giữa khách hàng nào sẽ trả tiền và khách hàng nào sẽ không trả tiền (vỡ nợ).
Doanh nghiệp thờng sử dụng một số thủ tục để xác định đợc khả năng khách hàng
không trả tiền. Quá trình này gọi là phân tích tín dụng.
2.2.1 Khi nào thì nên cấp tín dụng th ơng mại cho khách hàng?
Đối với trờng hợp bán hàng một lần
Ta xem xét trờng hợp đơn giản nhất là trờng hợp bán hàng một lần: một khách
hàng mới muốn mua chịu một đơn vị sản phẩm với giá là P. Nếu việc mua chịu
không đợc chấp nhận, ngời này sẽ không mua hàng của doanh nghiệp . Giả sử
rằng nếu khoản tín dụng này đợc chấp nhận với thời gian là một tháng, ngời khách
hàng này có thể trả tiền hoặc không trả. Khả năng khách hàng vỡ nợ là và khách
hàng chỉ mua một lần. Doanh lợi yêu cầu đối với các khoản phải thu trong một
tháng là R và chí phí biến đổi trên mỗi đơn vị là V.
Nếu doanh nghiệp từ chối việc cấp tín dụng thì luồng tiền tăng thêm là 0. Nếu
chấp nhận thì doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí biến đổi V trong tháng này và kỳ
vọng sẽ thu đợc (1-)*P vào tháng tới. Giá trị hiện tại ròng (NPV) của việc chấp
nhận cấp tín dụng là:
NPV= -V + (1-)*P/1+R
Ví dụ với các giá trị sau: =20%, V=20 đồng, P=49 đồng, R=20%
NPV= -20 đồng+ 0.8*49 đồng/1.02 = 18.43 đồng
Nh vậy khoản tín dụng nên đợc chấp nhận. Bằng cách chấp nhận khoản tín dụng
thơng mại cho một khách hàng mới, doanh nghiệp cũng chấp nhận khả năng mất
chi phí biến đổi V (khi khách hàng không trả tiền) để thu đợc toàn bộ số tiền P.
Đối với một khách hàng mới, khoản tín dụng thơng mại có thể đợc chấp nhận
thậm chí khi khả năng vỡ nợ khá cao. Nếu cho NPV= 0, ta tìm đợc giá trị tối đa
mà doanh nghiệp có thể chấp nhận.
NPV= -20 đồng+ (1-)*49 đồng/1.02 = 0
Ta có =58.4%
11
Nh vậy doanh nghiệp có thể chấp nhận tín dụng miễn là có 100%-54.8% =41.6%
cơ hội thu đợc tiền. Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp bán với giá cao
hơn lại thờng có các điều kiện tín dụng lỏng lẻo hơn.
Tỷ lệ 58.4% này là xác suất vỡ nợ lớn nhất có thể chấp nhận đợc. Nếu một khách
hàng cũ thờng trả tiền bằng tiền mặt yêu cầu đợc cấp tín dụng thơng mại thì việc
phân tích lại khác. Xác suất vỡ nợ lớn nhất có thể chấp nhận đợc thấp hơn nhiều.
Sự khác biệt quan trọng nhất là nếu doanh nghiệp cấp tín dụng thơng mại cho một
khách hàng cũ thì doanh nghiệp chịu rủi ro với toàn bộ mức giá P bởi đó là những
gì doanh nghiệp sẽ nhận đợc nếu không chấp nhận bán chịu. Trong khi nếu cấp
tín dụng thơng mại cho một khách hàng mới, doanh nghiệp chỉ chịu rủi ro với chi
phí biến đổi V.
Trờng hợp bán hàng nhiều lần
Ta giả sử rằng các khách hàng mới không bị vỡ nợ ngay lần đầu tiên sẽ trở thành
khách hàng thờng xuyên của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chấp nhận khoản
tín dụng thơng mại, nó phải bỏ ra V đồng tháng này. Sang tháng sau, hoặc là
doanh nghiệp sẽ không nhận đợc gì cả nếu khách hàng không trả tiền hoặc sẽ nhận
đợc P nếu khách hàng trả tiền và tiếp tục mua thêm một đơn vị hàng hoá. Doanh
nghiệp sẽ lại bỏ ra V đồng chi phí biến đổi. Luồng tiền ròng trong tháng là P-V,
luồng tiền này sẽ tiếp tục trong các tháng tiếp theo khi khách hàng trả hoá đơn
tháng trớc và đặt hàng thêm một đơn vị mới.
Nh vậy trong một tháng doanh nghiệp sẽ không nhận đợc đồng nào với xác suất
. Nhng với xác suất (1-), doanh nghiệp sẽ có một khách hàng lâu dài. Giá trị của
một khách hàng mới là giá trị hiện tại của (P-V) hàng tháng: PV= (P-V)/R.
Nh vậy, luồng tiền ròng của việc chấp nhận tín dụng thơng mại là:
NPV = -V+ (1-)*(P-V)/R.
= -20 + (1-)*(49-20)/ 0.2
= -20 + (1-)*1450.
Doanh nghiệp nên chấp nhận tín dụng thơng mại trừ khi khả năng vỡ nợ là chắc
chắn. Bởi lý do là ta có thể bỏ ra 20 đồng để xác định một khách hàng tốt và một
12
khách hàng tốt trị giá 1450 đồng và số tiền này đủ để bù đắp khoản lỗ do một số
khách hàng không chịu trả tiền.
Ví dụ trên đã chỉ ra rằng cơ hội bán hàng nhiều lần rất quan trọng. Trong trờng
hợp này, điều cần thiết là phải kiểm soát lợng tín dụng thơng mại cấp cho khách
hàng sao cho khả năng vỡ nợ nằm trong một giới hạn nào đó. Nói chung cách tốt
nhất để dự đoán liệu một khách hàng có trả tiền hay không là xem xét ngời này có
trả tiền đúng hạn trong quá khứ hay không. Do vậy ta cần phải thu thập thông tin
về khách hàng.
2.2.2 Thông tin tín dụng
Có một số nguồn phổ biến để thu thập thông tin của khách hàng là:
Các báo cáo tài chính: doanh nghiệp có thể yêu cầu khách hàng cung cấp
thông tin về tài chính nh bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập từ đó doanh
nghiệp xem xét một số tỷ lệ tài chính cơ bản nh tỷ lệ lợi nhuận/vốn, tốc độ chu
chuyển vốn lu động để cân nhắc có nên bán hàng cho khách hàng theo ph ơng
thức tín dụng thơng mại hay không.
Báo cáo về tình hình thanh toán của khách hàng đối với các doanh nghiệp
khác: ở các nớc phát triển có một tổ chức bán thông tin về tình hình tín dụng và
tình hình thanh toán của một số doanh nghiệp . Dựa vào những thông tin này,
doanh nghiệp có thể biết đợc tình trạng kinh tế của khách hàng để làm cơ sở
quyết định nên bán chịu hay không.
Các ngân hàng: do ngân hàng có quan hệ tín dụng với nhiều loại khách hàng
khác nhau nên ngân hàng cũng nhận đợc những thông tin về tình hình tín dụng
của các doanh nghiệp. Dựa vào những thông tin của ngân hàng cung cấp,
doanh nghiệp cũng phần nào biết đợc tình trạng kinh tế của khách hàng.
Lịch sử thanh toán của bản thân khách hàng với doanh nghiệp: một cách rõ
nhất để thu thập thông tin về xác suất không thanh toán của một khách hàng là
xem xét trong qua khứ ngời này có trả tiền cho doanh nghiệp đúng hạn hay
không.
13
2.2.3 Đánh giá tín dụng và cho điểm
Không có một công thức chung nhất để đánh giá xác suất vỡ nợ của khách hàng.
Tuy nhiên ta có thể dựa trên năm yếu tố tín dụng cơ bản sau (five Cs of credit):
Phẩm chất, t cách tín dụng (character): tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách
nhiệm của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Điều này cũng chỉ
phán đoán dựa trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trớc đây của khách
hàng đối với doanh nghiệp hoặc đối với doanh nghiệp khác.
Năng lực trả nợ (capacity): khả năng của khách hàng để thực hiện nghĩa vụ tín
dụng thơng mại. Tiêu chuẩn này đợc dựa vào hai cơ sở là chỉ tiêu về khả năng
thanh toán nhanh và bảng dự trữ ngân quỹ của khách hàng.
Vốn (capital): đây là tiêu chuẩn đánh giá về tiềm năng tài chính dài hạn của
khách hàng thông qua các chỉ tiêu về vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trong kinh
doanh
Tài sản thế chấp (collecteral): xem xét khách hàng dới giác độ các tài sản
riêng mà họ có thể sử dụng để đảm bảo cho các khoản nợ.
Các điều kiện (condition): các điều kiện kinh tế nói chung trong lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng: khả năng phát triển của khách hàng, xu thế phát triển
của ngành
Sau đây là một mô hình về việc tiến hành phân tích tín dụng theo ba mức. Đầu
tiên, những khách hàng có lịch sử thanh toán tốt thì sẽ đợc chấp nhận cấp tín dụng
ngay lập tức bởi các khách hàng này thể hiện xác suất thanh toán cao. Nếu một
khách hàng với lịch sử thanh toán tồi thì có thể bị từ chối do có thể dự đoán đợc
khả năng trả tiền của ngời này thấp hơn mức tối thiểu đối với doanh nghiệp.
Còn nếu lịch sử thanh toán của khách hàng không đủ để xác định khả năng thanh
toán, doanh nghiệp có thể thu thập thêm thông tin để quyết định. Dựa trên những
thông tin này, doanh nghiệp có thể chấp nhận cấp tín dụng thơng mại cho những
khách hàng có mức rủi ro thấp, và từ chối khách hàng có rủi ro cao.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét